vanban.org

Bản án 38/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 10/02/2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Đào

Ông Trương Thanh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Thư ký Tòa án Nhân dân Khu vực 7 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Khu vực 7- Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thanh Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 184/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2026/QĐST - HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị S, sinh năm 1989, địa chỉ: thôn Th, xã T, thành phố Đà Nẵng.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng A, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn 5, xã T, thành phố Đà Nẵng.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các phiên hòa giải nguyên đơn bà Huỳnh Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị S và ông Nguyễn Hùng A tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Trong quá trinh chung sồ

́ng, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông A không lo làm ăn, thường xuyên gây gổ, do nghi ngờ bà L có mối quan hệ với người đàn ông khác, khi bà L giải thích ông A vẫn không tin, dẫn đến vợ chồng cãi vã. Ông A có hành vi đánh đập, đe dọa tinh thần của tôi, khiến tinh thần bà L suy sụp, mặc dù đã nhiều lần khuyên và cho ông A cơ hội nhưng ông A không thay đổi. Nay Bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông Nguyễn Hùng A.

Về con chung: Vợ chồng Bà và ông A có 01 con chung, tên là Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 23/9/2018. Khi ly hôn, bà L có nguyện vọng muốn Tòa án giao cháu Nguyễn Huỳnh N cho ông Nguyễn Hùng A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu Vy muốn được ở với ba và ông Nguyễn Hùng A cũng có nguyện vọng muốn được nuôi dưỡng cháu Vy, hiện nay ông A cũng đang là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Vy. Bà L cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Huỳnh N mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con thành niên.

Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai, các phiên hòa giải, bị đơn ông Nguyễn Hùng A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà L kết hôn vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn như bà L trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến mâu thuẫn kéo dài. Việc bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông A không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông A và bà L có một con chung như bà L trình bày. Nếu bà L kiên quyết ly hôn, thi ông A có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng̀ con chung Nguyễn Huỳnh N, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng pháp luật; nguyên đơn, bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị S

Về con chung: Đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83, 110, 116 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Nguyễn Huỳnh N cho ông Nguyễn Hùng A chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị S về việc cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn với mức 2.000.000 đồng/tháng.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

Bà Huỳnh Thị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Hùng A có nơi cư trú tại thôn 5, xã T, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đà Nẵng theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng bị đơn ông Nguyễn Hùng A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị S và ông Nguyễn Hùng A tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam vào năm 2018, là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do ông A nghi ngờ bà L có mối quan hệ với người khác, từ đó dẫn đến vợ chồng bất đồng, thường xuyên xảy ra cãi vã, ông A dùng vũ lực đe dọa bà L, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà L vẫn kiên quyết ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông A và bà L làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị S ly hôn với ông Nguyễn Hùng A.

Về nuôi con chung: Vợ chồng ông A và bà L có một con chung, tên là Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 23/09/2018. Nếu ly hôn, bà L và ông A đều thống nhất giao con chung cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên và cháu Vy cũng có nguyện vọng ở với ông Nguyễn Hùng A. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Huỳnh N cho ông A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Huỳnh N 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên; xét đề nghị của Bà L phù hợp điều 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chia tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Đương sự khai không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025);

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị S.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Hùng A.

Về nuôi con chung: giao con chung là Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 23/09/2018 cho ông Nguyễn Hùng A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Bà Huỳnh Thị S cấp dưỡng nuôi con Nguyễn Huỳnh N 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản họ thực hiện quyền này. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có và đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Huỳnh Thị S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005645 ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng. Bà Huỳnh Thị S còn phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- TAND thành phố Đà Nẵng;

- VKSND khu vực 7;

- Phòng THADS khu vực 7;

- UBND xã Thạnh Bình, TP.Đà Nẵng;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Đinh Văn Long

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Nam.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THA dân sự huyện Phú Ninh .

- VKSND huyện Phú Ninh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

Nguyễn Thị Mận TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG NAM Số:.../2017/QĐST-HNGĐ

Phú Ninh, ngày 30 tháng 3 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

HOÃN PHIÊN TÒA

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Sỹ.

2. Bà Huỳnh Thị Bích Phi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mận là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Triệu Tin - Kiểm sát viên.

Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số: 175/2016/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2016 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, trách nhiệm trả nợ chung khi ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2017.

Xét thấy bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên toà lần thứ nhất không có lý do.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 175/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2017.

2.Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau:

Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Địa chỉ: Thị trấn Phú Thịnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

Cỡ chữ