vanban.org

Bản án 38/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị N.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị N và anh Võ Văn H. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị N - Võ Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 01 - 2026
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trường Hận

Bà Lê Trường An

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 495/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 625/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1987; CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 15/5/2022; Cư trú tại: Ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

Bị đơn: Anh Võ Văn H, sinh năm 1983; CMND số xxxxxxxxx; Cư trú tại: Ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/12/2025 và tại phiên toà, nguyên đơn chị Đỗ Thị N trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị N và anh Võ Văn H kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau). Trong quá trình chung sống, anh H ghen tuông vô cớ nên chửi bới, đánh đập chị N, mặc dù đã được mẹ chị N hoà giải nhưng không mang lại kết quả. Vợ chồng không còn chung sống từ tháng 8 năm 2025 đến nay, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Chị N không còn tình cảm với anh H nên kiên quyết xin ly hôn với anh H.

- Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Võ Tuấn V, sinh ngày 14/6/2007 và Võ Thị Anh T, sinh ngày 17/11/2016.

Đối với cháu V, đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với cháu T, hiện nay cháu T đang sống cùng anh H nên khi ly hôn, chị N yêu cầu tiếp tục giao cháu T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng; chị N cấp dưỡng cho cháu T theo khả năng thực tế của bản thân nên không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung nhưng sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Võ Văn H: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng anh H không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh H về các nội dung khởi kiện của chị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Võ Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị N và anh Võ Văn H xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật (Đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau) nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Chị N xác định, trong quá trình chung sống, anh H ghen tuông vô cớ nên chửi bới, đánh đập chị N, mặc dù đã được mẹ chị N hoà giải nhưng không mang lại kết quả. Vợ chồng không còn chung sống từ tháng 8 năm 2025 đến nay, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Chị N không còn tình cảm với anh H nên kiên quyết xin ly hôn với anh H.

Về phía anh H, tuy đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa nhưng anh H không có mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu về hôn nhân của chị N, điều này cho thấy anh H không có thiện chí hàn gắn và cũng không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với chị N.

Do chị N và anh H không còn sống chung; vợ chồng không thực hiện được nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và sống chung với nhau nên xác định chị N và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị N, cho chị N và anh H ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên Võ Tuấn V, sinh ngày 14/6/2007 và Võ Thị Anh T, sinh ngày 17/11/2016.

Đối với cháu V, đã thành niên, đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với cháu T, khi ly hôn, chị N yêu cầu tiếp tục giao cháu T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện cháu T đang sống chung với cha nên cháu đã có sự gắn bó, thân thiết với cha; anh H không có ý kiến đối với yêu cầu về con chung của chị N. Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu T, trong đó có việc bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống và giáo dục cháu T, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N xác định sẽ cấp dưỡng cho cháu T theo khả năng thực tế của bản thân, không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng. Do không ghi nhận được ý kiến của anh H về cấp dưỡng nuôi cháu T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung: Chị N xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do không ghi nhận được ý kiến của anh H về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do không ghi nhận được ý kiến của anh H về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nếu sau này đương sự có yêu cầu giải quyết thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: hoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị N.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị N và anh Võ Văn H.

- Về con chung:

Đối với cháu Võ Tuấn V, sinh ngày 14/6/2007, đã thành niên nên không xem xét, giải quyết.

Giao cháu Võ Thị Anh T, sinh ngày 17/11/2016 cho anh Võ Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị Đỗ Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T mà không ai được cản trở; chị N có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu T được sống chung với anh H.

Về cấp dưỡng cho cháu T: hông xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: hông xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: hông xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Chị Đỗ Thị N phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Ngày 03/12/2025 chị N đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005780 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được đối trừ chuyển thu.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đỗ Thị N có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn anh Võ Văn H có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ