- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị M-Long Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị M: Xác định anh Đặng Đình T có quan hệ huyết thống là cha đẻ của cháu Đặng Đình H (T1), sinh ngày 16/12/2021 (Theo giấy chứng sinh số 91, quyển số 02, ngày 16/12/2021 của Trung tâm y tế Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2026/HNGĐ-ST Ngày: 19-6-2026 V/v Tranh chấp xác định quan hệ cha con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Bá Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Hữu An
Ông Hoàng Văn Xuyên
- Thư ký phiên toà: Bà Nông Bích Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Chí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 125/2025/TLST-HNGĐ ngày 01/12/2025 về việc “Tranh chấp xác định cha con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 26/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04/6/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1988, HKTT: Xóm S, xã C, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Tổ dân phố V, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx ngày 24/10/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ Công an. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Long Văn Đ, sinh năm 1982, địa chỉ: Thôn N, xã Y, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Đình T, sinh năm 1993; địa chỉ: Xóm S, xã C, tỉnh Nghệ An. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx ngày 05/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai biên bản lấy lời khai nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày trình bày:
Chị và anh Long Văn Đ kết hôn vào năm 2008, đến năm 2014 sống ly thân và đến tháng 9/2025 được Toà án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn giải quyết cho ly hôn. Trong thời gian ly thân với anh Đ thì chị M có quen biết với anh Đặng Đình T và có quan hệ yêu đương với anh T từ năm 2021, đến ngày 16/9/2025 thì chị M với anh T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Nghệ An. Chị M và anh Đặng Đình T đã có với nhau 01 người con chung dự kiến đặt tên là Đặng Đình T1, sinh ngày 16/12/2021, tuy nhiên tại phiếu xác định kết quả ADN dự kiến đặt tên cháu là Đặng Đình H. Chị M và anh T đã tới Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus để tiến hành giám định ADN xác định huyết thống cha con với cháu Đặng Đình H (T). Tại Phiếu kết quả phân tích ADN huyết thống của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus xác định cháu Đặng Đình H (T) có quan hệ huyết thống cha con với anh T.
Nay chị M đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
1. Công nhận quan hệ huyết thống cha, con giữa anh Đặng Đình T và cháu Đặng Đình H (T);
2. Không công nhận huyết thống cha, con giữa anh Long Văn Đ với cháu Đặng Đình H (T).
Tại biên bản ghi lời khai ngày 23/6/2026, anh Long Văn Đ trình bày: Anh và chị Lê Thị M kết hôn năm 2006, đến năm 2017 thì sống ly thân và đến tháng 9 năm 2025 thì Toà án giải quyết cho ly hôn. Quá trình chung sống giữa anh Đ và chị Lê Thị M chỉ có 02 người con là Long Văn T2 và Long Bảo N, ngoài ra không có người con nào khác. Nay chị Lê Thị M yêu cầu không công nhận huyết thống cha, con giữa anh Long Văn Đ và cháu Đặng Đình H (T1) thì anh Long Văn Đ đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đặng Đình T trình bày: Anh và chị Lê Thị M quen biết, yêu nhau từ năm 2021 và kết hôn vào ngày 16/9/2025, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Nghệ An. Trong thời gian quen biết, yêu nhau, thì chị Lê Thị M chưa ly hôn với chồng là anh Long Văn Đ. Đến tháng 9/2025, Toà án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn mới giải quyết cho chị M và anh Đ ly hôn. Anh T và chị Lê Thị M đã có với nhau 01 người con chung dự kiến đặt tên là Đặng Đình T1, sinh ngày 16/12/2021, tuy nhiên tại phiếu xác định kết quả ADN dự kiến đặt tên cháu là Đặng Đình H. Tại Phiếu kết quả phân tích ADN huyết thống của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus xác định cháu Đặng Đình H (T) có quan hệ huyết thống cha con với anh Đặng Đình T. Vì vậy, anh T nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M về việc yêu cầu Toà án công nhận quan hệ huyết thống cha con giữa anh T và cháu Đặng Đình H (T1), đồng thời không công nhận huyết thống giữa anh Long Văn Đ và cháu Đặng Đình H (T).
Tại phiếu kết quả phân tích ADN số 2210381G/DNA của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus kết luận: Ông Đặng Đình T có quan hệ huyết thống cha - con với người có tên dự kiến Đặng Đình H, độ tin cậy >99,9999%.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Thẩm phán đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục, tiến hành thu thập chứng cứ, hướng dẫn đương sự viết tự khai, lấy lời khai nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định. Quá trình tiến hành tố tụng tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101 của chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M. Xác định anh Đặng Đình T có quan hệ huyết thống là cha đẻ của cháu Đặng Đình H (T1), sinh ngày 16/12/2021. Không công nhận anh Long Văn Đ có quan hệ huyết thống cha con với cháu Đặng Đình H (T1), sinh ngày 16/12/2021. Chị Lê Thị M được miễn án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án Tranh chấp xác định quan hệ cha, con theo quy định tại khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 89; khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình. Bị đơn cư trú tại thôn N, xã Y, tỉnh Lạng Sơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn theo quy định tại khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị M, anh Đặng Đình T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xử vắng mặt, còn đối với anh Long Văn Đ quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh Long Văn Đ đều vắng mặt, tại bản ghi lời khai anh Đ cho rằng do đường xa, bận nhiều việc nên không đến Toà án tham gia tố tụng được, do vậy việc xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị M thấy rằng chị và anh Long Văn Đ mặc dù chưa làm thủ tục ly hôn, nhưng vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014, đến tháng 9/2025 được Toà án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn giải quyết cho ly hôn. Trong thời gian sống ly thân với anh Long Văn Đ, chị Lê Thị M đã có quan hệ tình cảm và chung sống với anh Đặng Đình T, đến ngày 16/9/2025 thì đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống với nhau, chị Lê Thị M và anh Đặng Đình T đã có với nhau 01 người con chung đặt tên là Đặng Đình H (T1) nhưng chưa làm thủ tục khai sinh. Tại Phiếu kết quả phân tích ADN huyết thống của Công ty TNHH Đầu tư và công nghệ Genplus xác định cháu Đặng Đình H (T) có quan hệ huyết thống cha con với anh Đặng Đình T. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của đương sự số 49/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 05/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn cũng không thể hiện chị Lê Thị M và anh Long Văn Đ có con chung là Đặng Đình H (T1). Như vậy có căn cứ xác định anh Long Văn Đ không phải là cha đẻ của cháu Đặng Đình H (T). Cha đẻ của cháu Đặng Đình H (T) là anh Đặng Đình T. Do đó, yêu cầu của chị Lê Thị M là có căn cứ theo khoản 2 Điều 88, khoản 1 Điều 89 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.
Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Chi phí cho việc giám định ADN chị Lê Thị M đã tự chi trả, qúa trình giải quyết vụ án chị Lê Thị M không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn là người yêu cầu giải quyết tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên nên thuộc trường hợp được miễn án phí sơ thẩm theo điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 ;
Căn cứ khoản 2 Điều 88; khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 101 của ;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị M: Xác định anh Đặng Đình T có quan hệ huyết thống là cha đẻ của cháu Đặng Đình H (T1), sinh ngày 16/12/2021 (Theo giấy chứng sinh số 91, quyển số 02, ngày 16/12/2021 của Trung tâm y tế Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký khai sinh cho con theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Không công nhận anh Long Văn Đ có quan hệ huyết thống cha, con với cháu Đặng Đình H (T1), sinh ngày 16/12/2021
3. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị M được miễn án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 3 – Lạng Sơn; - Phòng thi hành án dân sự khu vực 3; - Các đương sự; - UBND xã C, tỉnh Nghệ An; - Lưu hồ sơ + Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nông Bá Hiệp |