- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tốtụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2025/HSST Ngày 25/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Đào.
Bà Nguyễn Thị Hường.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2025/TLST - HS ngày 03 tháng 6 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐST–HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn V, tên gọi khác: Không;
Sinh ngày 11/4/2000 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Trú tại: bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn K và bà Vi Thị K1; Vợ: Lữ Thị N và 01 người con; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 39/2019/HSST ngày 29/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành án xong ngày 27/4/2021. Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 31/3/2025 cho đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T – Trợ giúp viên pháp lý – Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 2 – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 31/3/2025 nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có đối tượng có biểu hiện phạm tội về ma tuý tại khu vực bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác địa bàn tổ số 2 Phòng PC04 Công an tỉnh N đồng chủ trì Công an thị trấn Q phối hợp với Công an xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An tiến hành xác minh tin báo, kiểm tra phát hiện đối tượng Vi Văn V, qua kiểm tra thu giữ trong túi áo khoác đang mặc của Vi Văn V 01 túi màu hồng bên trong đựng 01 túi nilon màu vàng chứa cục bột màu trắng (nghi ma tuý). Tổ Công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng và đưa đối tượng về trụ sở Công an để làm việc. Tại Cơ quan Điều tra Vi Văn V khai nhận: Bản thân Văn là người nghiện chất ma túy, loại ma túy sử dụng là heroine. Vào ngày 25/3/2025, V đi từ nhà lên khu vực cầu N, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, tên tuổi. Tại đây, V hỏi người đàn ông trên là có ma túy heroine bán không. Bán cho Văn 1.000.000đ, thì người đó đồng ý và V đưa tiền, người đàn ông trên bán cho V 01 gói ma túy heroin, bên ngoài bọc bằng túi màu hồng, bên trong có 01 túi màu vàng, trong bao ni lông màu vàng đựng chất cục bột màu trắng. Sau đó, V mang ma túy về nhà để cất giấu và sử dụng dần bằng cách hút và chích. Đến chiều ngày 31/3/2025, V mang số ma túy trên đi sử dụng, tuy nhiên đang đi trên đường thì bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ, kiểm tra trong túi áo của V đang mặc có 01 túi màu hồng, bên trong đựng 01 túi nilon màu vàng, chứa chất cục bột màu trắng. Sau đó, lực lượng Công an thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong lại thể hiện: 01 bao màu hồng bên trong đựng 01 bao màu vàng, trong bao ni lông màu vàng có chứa chất cục bột màu trắng, khối lượng chất cục bột màu trắng khi trừ bì là 6,82 gam (Sáu phẩy tám mươi hai gam). Hội đồng thống nhất lấy 1,40 gam chất cục bột màu trắng gửi giám định, còn lại 5,42 gam cùng vỏ bao niêm phong lại theo đúng quy định.
Kết luận giám định số 152/KL – KTHS (Đ2- MT) ngày 07/4/2025 của phòng K2 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn V gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Vi Văn V có khối lượng là 6,82g (sáu phẩy tám mươi hai gam).
Bản Cáo trạng số 36/VKS – HS ngày 30/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo Vi Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn V từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số heroine còn lại sau khi gửi giám định.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn V là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên đề nghị miễn nộp tiền án phí đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh và hình phạt. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo thành khẩn khai báo. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo và cho bị cáo được miễn tiền án phí HSST. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 điềuđiểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hìnhxử phạt bị cáo Vi Văn V từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn V thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng tại phiên toà, bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội: Căn cứ tài liệu, chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập được tại hồ sơ vụ án,căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 15 giờ 45 phút ngày 31/3/2025 tại khu vực bản B, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vi Văn V đã có hành vi tàng trữ trái phép 6,82g (sáu phẩy tám mươi hai) gam ma túy Heroine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo Vi Văn V tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 31/3/2025; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 31/3/2025; Kết luận giám định số 152/KL – KTHS (Đ2- MT) ngày 07/4/2025 của phòng K2 Công an tỉnh N. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Vi Văn V đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo Vi Văn V là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bản thân là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện của mình nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, tại Bản án số 39/2019/HSST ngày 29/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành án xong ngày 27/4/2021. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông bị cáo khai bán ma túy cho bị cáo ngày 31/3/2025, tại khu vực cầu N, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà do không xác định được địa chỉ, lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hìnhsự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ....”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, nghiện chất ma tuý, gia đình thuộc hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- Số heroine còn lại sau khi gửi giám định cùng vỏgói, bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Vi Văn V là người đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vi Văn V 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/3/2025.
2. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47; Điều 106 Bộ luật tốtụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao và giấy niêm phong cùng với 5,42 gam ma túy loại Heroine.
Đặc điểm chi tiết vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vi Văn V.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An, - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An, - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; -VKSND huyện Quỳ Hợp, - THADS huyện Quỳ Hợp, - Bị cáo; - Lưu hs. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Sầm Thị Thanh Sương |