- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Triệu + đồng phạm - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số: 38/2025/HS-ST Ngày: 13 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiều;
Ông Tạ Văn Nhật;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST- HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐ-HPT ngày 20 tháng 3 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐ-HPT ngày 31 tháng 3 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐ-HPT ngày 16 tháng 4 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QĐ-HPT ngày 29 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985 tại huyện Đ, Thành phố H; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T1, xã L, huyện Đ, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N1; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N1; con ông Nguyễn Xuân N, con bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/12/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Thanh T 36 tháng tù về tội Giết người; Ngày 20/5/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt Nguyễn Thanh T tù chung thân về tội giết người. Danh bản, chỉ bản số 387 do Công an huyện Đ, Thành phố H lập ngày 26/11/2024; Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trạm giam Tân Lập - Bộ Công an; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hoài N1, sinh năm 1983 tại huyện Đ, Thành phố H; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T1, xã L, huyện Đ, Thành phố H; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: N1; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N1; con ông Nguyễn Văn N2; con bà Trịnh Thị X; vợ Trần Thị Thanh Đ1; con có 03 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/08/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao
- 1 -
xử 06 năm tù về tội cưỡng đoạt tài sản; Ngày 20/3/2017, Công an huyện Đan Phượng xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích. Danh bản chỉ bản số 359 do Công an huyện Đ, Thành phố H lập ngày 29/10/2024; Tạm giam từ ngày 29/10/2024 tại nhà Tạm giữ - Công an Đan Phượng; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Hoàng Văn L1, sinh năm 1988 tại huyện Đ, Thành phố H; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T1, xã L, huyện Đ, Thành phố H; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: N1; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N1; con ông Hoàng Văn H1, con bà Nguyễn Thị D; vợ là Nguyễn Thị V, con có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 23/02/2009 Công an huyện Đ, Thành phố H xử phạt 350.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích; Ngày 16/12/2009, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt Hoàng Văn L1 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Danh bản, chỉ bản số 383 do Công an huyện Đ, Thành phố H lập ngày 19/11/2024; Tạm giam từ ngày 19/11/2024 tại nhà tạm giữ - Công an Đan Phượng; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân L2, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Đ1, xã L, huyện Đ, Thành phố H. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh L2: Bà Phạm Thị Yến N2, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn Đ2, xã T3, huyện P1, Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Nguyễn Tuấn D1, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ 7, phường Đ, quận B, Thành phố H. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Xuân T4, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Đ2, xã L, huyện Đ, Thành phố H. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Chí P1 sinh năm 1979; địa chỉ: CT14 - Võ Chí Công, phường P, quận T, Thành phố H. Vắng mặt
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Bá T6, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Đ1, xã L, huyện Đ, Thành phố H. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Đ1, xã L, huyện Đ, Thành phố H. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Xuân T5, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Đ1, xã L, huyện Đ, Thành phố H. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Xuân T6, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn Đ1, xã L, huyện Đ, Thành phố H. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
- 2 -
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 14/7/2019, anh Nguyễn Chí P1 (sinh năm 1979; trú tại CT 14, đường Võ Chí Công, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội) điều khiển xe ô tô bán tải biển kiểm soát 89C-123.67 chở anh Nguyễn Xuân T4 (sinh năm 1972; trú tại thôn Đ1, xã L, Đan Phượng; là anh họ của anh P1) đến thị trấn Phùng, huyện Đ, H để lấy xe máy. Khi đến nơi, anh T4 ở lại về sau, còn anh P1 tiếp tục điều khiển xe ô tô đi từ thị trấn Phùng về thôn Đ1, xã L, huyện Đan Phượng, Hà Nội, trên xe ô tô lúc này còn có anh Nguyễn Bá T6 (sinh năm 1978) ngồi ghế sau và anh Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1982; cùng trú tại thôn Đ1, xã L, huyện Đan Phượng, Hà Nội) ngồi ở ghế phụ. Khi anh P1 điều khiển xe ô tô đi trên đường nhánh 2, kênh Đan Hoài (đoạn gần UBND xã Liên Hồng), huyện Đan Phượng, Hà Nội đến ngã 3 giao nhau với đường Thống Nhất thì anh P1 bật xi nhan rẽ trái và cho xe ô tô chuyển hướng để đi vào đường Thống Nhất đã gặp Nguyễn Hoài N1 (sinh năm 1983; trú tại thôn T1, xã L, huyện Đan Phượng, Hà Nội) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 29D2-215.19 đi một mình theo chiều ngược lại và đi gần sát đầu xe ô tô. Mặc dù 02 P1 tiện chưa va chạm với nhau nhưng N1 dừng xe máy, chặn đầu xe ô tô của anh P1 rồi điều khiển xe máy Honda Dream húc phần mặt lăn của bánh xe vào khu vực đầu xe ô tô 89C-123.67 của anh P1 nhiều phát. Sau đó, N1 dựng nghiêng xe máy của mình nằm ở dưới đường trước đầu xe ô tô, chạy lại vị trí gần cửa bên lái bảo anh P1 xuống xe để nói chuyện. Thấy vậy, anh T6 cùng anh L1 xuống xe, nói với N1: “Không có gì đâu, người cùng làng cùng xã mà” thì N1 không nói gì đồng thời dùng tay phải đấm anh T6 nhiều phát. Khi anh P1 xuống xe, giải thích không va chạm vào xe máy của N1 thì N1 chửi anh P1 rồi lao đến; dùng tay trái túm cổ áo và dùng tay phải đấm thẳng vào mặt anh P1 nhiều phát. Anh T6, anh L1 và mọi người đã can ngăn. Khoảng 03 - 04 phút sau, có Nguyễn Thanh T (sinh năm 1985; trú tại thôn T1, xã L, huyện Đan Phượng, Hà Nội; là bạn của N1) cùng một số đối tượng khác (không xác định được) đi đến cũng xông vào đánh, tát vào mặt anh P1; N1 sử dụng 01 (một) chai nước (không rõ đặc điểm) chửi bới, đe doạ anh P1, dùng chân đá, đạp vào xe ô tô của anh P1. Do được người dân ở khu vực gần đó chạy ra can ngăn nên nhóm của N1 không đánh và cho anh P1 tiếp tục đi; có người dân dắt xe máy của N1 ra bên lề đường để các anh P1, T6 và anh L1 đi về. Sau đó, anh P1 lên xe ô tô, điều khiển xe chở anh T6 và anh L1 đi về giếng làng của thôn Đông Lai. Sau khi anh P1 đi, Hoàng Văn L1 (sinh năm 1988; trú tại thôn T1, xã L, huyện Đan Phượng, Hà Nội; là bạn N1) có mặt. Với mục đích tiếp tục đánh nhóm anh P1 nên N1 bảo L1 điều khiển xe máy đuổi theo xe ô tô của anh P1; còn T cùng một số đối tượng khác đuổi theo ở phía sau.
Khi thấy anh P1 đỗ xe ô tô ở giếng làng Đông Lai cách nhà ông Nguyễn Xuân Tường (sinh năm 1945; trú tại thôn Đ1, xã L, huyện Đan Phượng; là bác vợ anh P1) khoảng 50 mét, đầu xe hướng về phía cổng làng Đông Lai. Anh T6 và anh
- 3 -
L1 xuống xe để đi vào nhà ông Tường gọi chị Đỗ Thị Hằng (sinh năm 1980; trú tại CT 14, đường Võ Chí Công, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội; là vợ anh P1) đưa con nhỏ ra xe để đi về. Khi N1, L1, T và một số đối tượng đi tới, cả nhóm tiếp tục chửi bới đấm đá anh P1 thì anh Nguyễn Xuân Tú (sinh năm 1974; trú tại thôn Đ1, xã L, huyện Đan Phượng) đi xe máy đến can ngăn nên cả ba đi vòng ra phía sau xe ô tô đứng ở đó. Cùng lúc này, anh Nguyễn Xuân T4 đi từ thị trấn Phùng về hỏi N1, N1 trả lời bị xe ô tô của anh P1 vừa đâm vào; anh T4 bảo N1 cứ đi về mai nói chuyện nhưng N1 và nhóm thanh niên trên không về. Khi biết anh P1 bị đánh ở đầu ngõ nên các anh Nguyễn Xuân L2 (sinh năm 1978), anh Nguyễn Văn Quyền (sinh năm 1976); Nguyễn Xuân Thuật (sinh năm 1988; tên gọi khác Năm), anh Nguyễn Xuân Thư (sinh năm 1976; cùng trú tại thôn Đ1, xã L, huyện Đan Phượng; tên gọi khác là Thụ) và anh Nguyễn Tuấn Dũng (sinh năm 1978; trú tại tổ 7, phường Đức Thắng, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) là anh họ chị Hằng từ trong nhà đi ra cách giếng làng khoảng 50 mét. Anh L2 hỏi “Chúng mày là ai” thì có một đối tượng trong nhóm N1 trả lời “Mày tuổi gì mà nói chuyện” và đồng thời bị thanh niên này lao vào đấm vào mặt anh L2; 01 (một) thanh niên đứng bên trái lao vào đánh anh L2, tiếp đó cả nhóm N1, T, L1 lao lên đánh anh L2, anh Dũng, anh Thư tới tấp. Khi anh L2 bị đánh loạng choạng lùi lại phía sau vài mét thì bị 01 thanh niên trong nhóm của N1 dùng gạch đập vào đầu, trúng phần thái dương bên trái chảy máu; Anh Thư, anh Dũng bị một đối tượng cầm gạch đánh vào mặt; anh Dũng lao ra thì bị đánh vào mặt. Sau đó được người dân can ngăn nên cả nhóm N1 đi về. Sau đó anh Nguyễn Xuân L2 đến Trạm y tế xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng và Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng khám và điều trị đến ngày 19/7/2019 được ra viện. Anh Nguyễn Tuấn Dũng khám tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng và điều trị ngoại trú. Anh Nguyễn Chí P1, Nguyễn Bá T5 bị thương tích nhẹ tự điều trị tại nhà.
Ngày 19/10/2024, Nguyễn Hoài N1 đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đầu thú. Ngày 29/11/2024, Hoàng Văn L1 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng bắt tạm giam để điều tra về hành vi Cố ý gây thương tích.
Sau khi tiếp nhận nhận tố giác của anh Nguyễn Xuân T4, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã thu thập tài liệu chứng cứ, trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với các anh Nguyễn Xuân L2, Nguyễn Tuấn Dũng và Nguyễn Xuân Thư. Kết quả như sau:
Tại biên bản dựng lại hiện trường ngày 02/01/2025, do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng xác lập thể hiện: “... Hiện trường xảy ra vụ việc là khu vực đường làng cạnh giếng làng Đông Lai, trước cửa nhà số 21, 23 đường Đ1, xã L, huyện Đan Phượng...”
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra không thu giữ được viên gạch để đánh anh Nguyễn Xuân L2.
- 4 -
Tại bản tóm tắt hồ sơ bệnh án của anh Nguyễn Xuân L2 do Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng cung cấp: “Bệnh nhân vào viện lúc 9 giờ 45 phút ngày 17/7/2019; ra viện lúc 16 giờ ngày 19/7/2019.
Toàn trạng: Tỉnh,Glasgow 15 điểm, niêm mạc hồng. Nhiệt độ 37oC, mạch 78 lần/phút, huyết áp 110/60 mmHg, nhịp thở 20 lần/phút.
Tại chỗ: Vùng thái dương đỉnh trái có 01 vết thương dài 03 cm, đã khâu, vết thương khô. Tuần hoàn: Tim đều, rõ, không thấy tiếng tim bệnh lý. Hô hấp: Phổi không ral, RRPN rõ. Tiêu hoá: Bụng mềm không chướng. Các cơ quan bộ phận khác hiện chưa thấy biểu hiện bất thường”.
Tại biên bản làm việc hồi 00 giờ 40 phút ngày 15/07/2019 tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng, Hà Nội về thương tích của anh Nguyễn Tấn Dũng do Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đan Phượng xác lập, thể hiện:
“ ...Bệnh nhân Dũng vào khoa tỉnh, tiếp xúc được, sưng nề vùng hàm, mặt, bầm tím mắt trái, nhìn hạn chế, chụp cắt lớp vi tính hàm mặt, có tụ dịch xoang hàm trái. Ngoài ra không thấy tổn thương khác. Bệnh nhân xin về điều trị ngoại trú...”
Trong các ngày 21/8/2019 và 11/10/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã trưng cầu giám định pháp y thương tích đối với các anh Nguyễn Xuân L2, Nguyễn Tuấn Dũng tại Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội.
Tại bản kết L2 giám định thương tích số 774/TTPY ngày 28/8/2019 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội về thương tích của anh Nguyễn Xuân L2 kết L2:
1. Sẹo vết thương vùng thái dương trái: 02%.
2.Vỡ lún 2 bản xương sọ thái dương trái: 20%
3. Nhiều khả năng các thương tích do vật tày có cạnh gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khoẻ 22% ( hai mươi hai phần trăm).
Tại bản kết L2 giám định thương tích số 934/TTPY ngày 18/10/2019 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội về thương tích của anh Nguyễn Tuấn Dũng kết L2:
1. Mắt trái còn tụ máu mi dưới, đáy mắt phù nhẹ võng mạc vùng hậu cực không ảnh hưởng thị L1 (20/20): Thông tư số 20/2014/TT- BYT ngày 12/6/2014 không có chương mục nào quy định tỷ lệ tổn hại sức khoẻ đối với chạm thương này.
2. Chạm thương phần mềm vùng hàm mặt không còn sưng nề bầm tím, không tổn thương xương, không ảnh hưởng chức năng: Thông tư số 20/2014/TT - BYT ngày 12/6/2014 không có chương mục nào quy định tỷ lệ tổn hại sức khoẻ đối với chạm thương này.
3. Nhiều khả năng các thương tổn do vật tày gây nên...”.
Ngày 19/09/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng đã có Quyết định trưng cầu giám định pháp y đối với thương tích của anh Nguyễn
- 5 -
Xuân Thư nhưng anh Thư đã từ chối giám định nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Bản Cáo trạng số 08/CT-VKS-ĐP ngày 10/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố H truy tố Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1 và Hoàng Văn L1 về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xem xét cho hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1 và Hoàng Văn L1 về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55; 56 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 26 - 30 tháng tù; tổng hợp với hình phạt tù chung thân tại Bản án số 191/2020/HSPT ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2019.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N1 từ 26 - 30 tháng tù.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 xử phạt bị cáo Hoàng Văn L1 từ 24 - 27 tháng tù.
Về nghĩa vụ bồi thường dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 60.000.000 đồng.
Về vật chứng: không.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan và những người làm chứng, các kết L2 giám định pháp y thương tích và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết L2: Khoảng 21 giờ ngày
- 6 -
14/7/2019, tại khu vực đường nhánh 2, kênh Đan Hoài (gần UBND xã Liên Hồng), huyện Đan Phượng, Hà Nội; mặc dù xe ô tô của anh Nguyễn Chí P1 điều khiển không va chạm vào xe máy của Nguyễn Hoài N1 điều khiển nhưng N1 đã dùng xe máy của mình chặn đầu xe ô tô của anh P1, dùng xe máy của mình đâm khoảng 04
- 05 phát vào đầu xe ô tô của anh P1. Khi anh Nguyễn Bá T5 (là bạn anh P1) xuống xe ô tô để nói chuyện thì bị N1 dùng tay đấm vào người anh T6 nhiều phát làm anh T6 phải bỏ chạy. Anh P1 tiếp tục xuống xe để giải thích thì bị N1 dùng tay trái túm cổ áo, tay phải đấm vào mặt anh P1 nhiều phát. Cùng thời điểm này Nguyễn Thanh T, Hoàng Văn L1 (đều là bạn của N1) và một số đối tượng khác không xác định được cùng đi đến đây. Tại đây, T và N1 cùng số đối tượng (không xác định được) xông vào đấm, đá anh P1. Quá trình đánh anh P1, N1 có sử dụng 01 chai nước ngọt (không rõ đặc điểm) để đe dọa anh P1; dùng chân đạp, đá vào xe ô tô của anh P1. Do được mọi người can ngăn nên nhóm N1 không đánh nhóm anh P1 nữa. Anh P1 điều khiển xe đi về. Tuy nhiên, sau khi anh P1 điều khiển xe ô tô di chuyển thì N1 bảo L1 điều khiển xe máy chở N1 đuổi theo để tiếp tục đánh nhóm anh P1; còn T cùng một số đối tượng khác đuổi theo phía sau.
Tại khu vực giếng làng thôn Đ1, xã L, huyện Đan Phượng, Hà Nội khi các đối tượng N1, T, L1 chửi bới, xông vào đấm đá anh P1 thì anh Nguyễn Xuân Tú và anh Nguyễn Xuân T4 đi đến và can ngăn nhưng không được. Nhận được thông tin anh P1 bị đánh, các anh Nguyễn Xuân L2, anh Nguyễn Văn Quyền, Nguyễn Xuân Thuật, anh Nguyễn Xuân Thư và anh Nguyễn Tuấn Dũng (là anh họ anh P1) cùng ra can ngăn thì bị nhóm N1, T và L1 cùng một số thanh niên trong nhóm đuổi đánh. Anh L2 bị 01 thanh niên trong nhóm của N1 dùng gạch đập vào đầu, N1, T, L1 gây ra vết thương vùng thái dương trái, vỡ lún 02 bản xương sọ thái dương trái với tỷ lệ tổn hại sức khoẻ là 22%;
Hành vi của Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1 và Hoàng Văn L1 đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng L1 trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1 và Hoàng Văn L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật nêu trong cáo trạng và trong L2 tội là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Hành vi của Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1 và Hoàng Văn L1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của anh L2, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa P1. Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm học để tu dưỡng bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần phải xét xử bị cáo nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian
- 7 -
để giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng sức khỏe, tính mạng người khác, ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục chung.
. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự phân công vai trò cụ thể. Tuy nhiên cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo như sau:
Nguyễn Hoài N1 là khởi nguồn vụ việc, khi lưu thông trên đường dù không va chạm với anh P1 những đã có hành vi đánh anh P1, sau đó lại tiếp tục cùng T, L1 và một số đối tượng khác gây thương tích cho anh L2, vì vậy N1 phải chịu mức hình phạt cao nhất.
Đối với Nguyễn Thanh T là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội có vai trò thứ hai, khi bị xét xử thì bị cáo đang phải thi hành án tại Bản án số 191/2020/HSPT ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Vì vậy căn cứ Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án.
Hoàng Văn L1 là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội có vai trò đồng phạm giúp sức nên phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo N1 và T.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được người đại diện theo ủy quyền của người bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt do các bị cáo Nguyễn Hoài N1, Hoàng Văn L1 đã nhờ gia đình để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; bị cáo Nguyễn Hoài N1 ra đầu thú và gia đình có công với cách mạng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
. Về nghĩa vụ bồi thường dân sự: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người bị hại trình bày đã thỏa thuận thống nhất mức bồi thường thiệt hại do các bị cáo gây ra cho anh L2 là 60.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1, Hoàng Văn L1 nhất trí bồi thường cho người bị hại số tiền là 60.000.000 đồng. Bị cáo N1, L1 mỗi bị cáo đã nộp tiền bồi thường 10.000.000 đồng tại cơ quan thi hành án. Số tiền 40.000.000 đồng gia đình bị cáo N1 và L1 đã bồi thường cho người bị hại. Người đại diện theo ủy quyền của người bị hại không còn yêu cầu gì nên HĐXX không xét.
Số tiền 60.000.000 đồng bồi thường cho người bị hại về nguyên tắc các bị cáo phải liên đới bồi thường, tuy nhiên bị cáo N1 và bị cáo L1 đã tự nguyện bồi thường đủ, các bị cáo không yêu cầu T phải có trách nhiệm bồi thường, đây là sự tự nguyện của các bị cáo cần chấp nhận.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét không xem xét.
. Về xử lý vật chứng: Không
- 8 -
. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 55, 56 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Tổng hợp với hình phạt tù chung thân tại Bản án số 191/2020/HSPT ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2019.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài N1 26 (hai mươi sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 29/10/2024.
3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn L1 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/11/2024.
4. Về nghĩa vụ bồi thường dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của người bị hại và các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1, Hoàng Văn L1 có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Xuân L2 số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi T đồng). Anh Nguyễn Xuân L2 đã nhận được 40.000.000 đồng (bốn mươi T đồng).
Anh Nguyễn Xuân L2 được nhận 20.000.000 đồng (hai mươi T đồng) tại cơ quan thi hành án từ: Bị cáo Nguyễn Hoài N1 đã nộp 10.000.000 đồng tại BL số 0010522 ngày 19/3/2025 tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Đan Phượng; Bị cáo Hoàng Văn L1 đã nộp 10.000.000 đồng tại BL số 0010523 ngày 19/3/2025 tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Đan Phượng.
3. Về xử lý vật chứng: Không
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Nguyễn Hoài N1, Hoàng Văn L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- 9 -
Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố H; - VKSND huyện Đan Phượng, TP Hà Nội; - CCTHADS huyện Đan Phượng, TP Hà Nội; - UBND xã Liên Hồng, huyện Đ, Thành phố H; - Bị cáo, bị hại, NLQ; - Lưu hồ sơ vụ án. - 10 - THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - 11 - - 12 - - 13 - - 14 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thúy |