- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN mdbdikrgkjKHU VỰC 11 - TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2025/HS-ST Ngày: 17-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Song Tố Như;
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Nguyễn Thị Kim Đào;
+ Ông Trần Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Vĩ Khang, Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Võ Thành Đ, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1985 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Khu phố 1, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp 1, xã D, tỉnh Tây Ninh); nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh Q (đã chết) và bà Cao Hồng M (đã chết); vợ là chị Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1993; con: Có 01 người, sinh năm 2015; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 24/9/2024, bị Công an xã P, Huyện D xử phạt số tiền 1.500.000 Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Nhân thân: Ngày 07/8/2012, bị Toà án nhân dân thị xã T xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành án tại Trại giam Cây Cầy xong ngày 21/4/2013, nộp án phí xong ngày 08/12/2013; Ngày 12/3/2012, bị Uỷ ban nhân dân thị trấn D ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, chấp hành xong ngày 12/6/2012
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/6/2025, chuyển sang tạm giam từ ngày 10/6/2025 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Ông Trần Văn L, sinh năm 1959; địa chỉ: ấp H, xã C, tỉnh Tây Ninh) (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 05/6/2025, khi đi câu cá ngang vườn bưởi của ông Trần Văn L thuộc ấp H, xã N, Huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp H, xã C, tỉnh Tây Ninh), bị cáo Võ Thành Đ chui qua hàng rào kẽm lưới B40 vào bên trong vườn bưởi, hái trộm 06 trái bưởi da xanh ruột đỏ, tổng trọng lượng 8,35 kg, rồi đem về nhà cất giấu
Khoảng 14 giờ ngày 07/6/2025, do muốn có tiền tiêu xài và mua ma tuý để sử dụng, Đ nảy sinh ý định trộm bưởi của ông L đem bán. Bị cáo mang theo 01 bao nylon và 01 giỏ nhựa rồi điều khiển xe mô tô biển số 70B1-870.46 đến vườn bưởi của ông L. Bị cáo dựng xe trên bờ kênh, chui qua hàng rào kẽm lưới B40 vào bên trong vườn bưởi, hái trộm 108 trái bưởi da xanh ruột đỏ, tổng trọng lượng 131,7 kg rồi gom để trong vườn 03 đống bưởi, vận chuyển ra bờ kênh 02 đống bưởi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ bị Công an xã N (nay là Công an xã C) phát hiện và bắt quả tang.
* Kết luận định giá tài sản số 19 ngày 09/6/2025 của Hội Đ định giá tài sản thuộc UBND Huyện D kết luận:
Bưởi da xanh ruột đỏ, trọng lượng 8,35kg, tại thời điểm ngày 05/6/2025 có giá trị được chấp nhận mua bán trên thị trường là: 209.000 (hai trăm lẻ chín nghìn) Đ
Bưởi da xanh ruột đỏ, trọng lượng 131,7kg, tại thời điểm ngày 07/6/2025 có giá trị được chấp nhận mua bán trên thị trường là 3.293.000 (ba triệu hai trăm chín mươi ba nghìn) Đ
Tổng giá trị đề xuất: 3.502.000 (ba triệu năm trăm lẻ hai nghìn) Đ
* Về kết quả thu giữ và xử lý vật chứng, vật chứng còn tạm giữ gồm:
+ 01 (một) cái bao nylon màu trắng xanh đã qua sử dụng;
+ 01 (một) giỏ mũ màu đỏ, ngang 65 cm, cao 25 cm, dài 45 cm, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng đã qua sử dụng;
+ 01 (một) quần dài màu đen đã qua sử dụng
+ 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-870.46, số khung MX100*C0042898*, số máy 1P50FMG-3*Y0800463*, đã qua sử dụng
* Kê biên tài sản: Bị cáo Võ Thành Đ không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên
* Về trách nhiệm dân sự: Ông L đã thu hồi lại được tài sản nên không yêu cầu bồi thường
* Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSKV11 ngày 20 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh đã truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa,
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội Đ xét xử tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thành Đ từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù giam và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật
Bị cáo không tham gia tranh luận
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội Đ xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm quay về với gia đình, xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội Đ xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu bồi thường, đề nghị mức hình phạt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ quy định tại Điều 290, 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Để có tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 05/6/2025 đến ngày 07/6/2025, tại ấp H, xã N, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp H, xã C, tỉnh Tây Ninh), Đ đã có hành vi lén lút lấy trộm 114 trái bưởi da xanh ruột đỏ, tổng trọng lượng 140,05 kg, trị giá 3.502.000 Đ của ông Trần Văn L. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng do ý thức coi thường pháp luật mà thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội
Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ có 01 tiền sự và có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã từng bị xử phạt hành chính nhưng không chấp hành pháp luật, không ăn năn hối cải mà tiếp tục phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội Đ xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong tình hình hiện nay.
Các biện pháp tư pháp: 140,05kg bưởi da xanh ruột đỏ đã được thu hồi và trả lại cho ông Trần Văn L. Ông L không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội Đ xét xử ghi nhận
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 (một) cái bao nylon màu trắng xanh đã qua sử dụng; 01 (một) giỏ mũ màu đỏ, ngang 65 cm, cao 25 cm, dài 45 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài màu đen đã qua sử dụng
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-870.46, số khung MX100*C0042898*, số máy 1P50FMG-3*Y0800463*, đã qua sử dụng, qua xác minh, tài sản trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Thanh T. Anh T không biết việc bị cáo sử dụng tài sản để làm phương tiện phạm tội nên cần trả lại cho anh Tiến.
Từ những phân tích nêu trên, Hội Đ xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 Đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2025
2. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Ghi nhận ông Trần Văn L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
- Hoàn trả cho anh Nguyễn Thanh T 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-870.46, số khung MX100*C0042898*, số máy 1P50FMG-3*Y0800463*, đã qua sử dụng
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cái bao nylon màu trắng xanh đã qua sử dụng;
+ 01 (một) giỏ mũ màu đỏ, ngang 65 cm, cao 25 cm, dài 45 cm, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng đã qua sử dụng;
+ 01 (một) quần dài màu đen đã qua sử dụng
(Hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Tây Ninh đang giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/8/2025)
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; bị cáo Võ Thành Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) Đ án phí hình sự sơ thẩm
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND KV11-TN; - THADS tỉnh TN; - Công an tỉnh TN - Phân trại KV VI – TTG số 1 CA tỉnh; - Phòng PV 06 CA tỉnh Tây Ninh; - Phòng lý lịch STPTTN; - BP.THAHS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án HSST. | TM. HỘI Đ XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Song Tố Như |