- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cẩm - em"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị C đối với anh Dương Văn E. Xử cho chị Trần Thị C được ly hôn với anh Dương Văn E.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/9/2025. V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Thái Hiệp.
2. Ông Danh On.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Hoàng Kha, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST–HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị C, sinh ngày 20/8/1994 (có đơn vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Dương Văn E, sinh ngày 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 5 năm 2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị C trình bày: Chị và anh E xây dựng hôn nhân vào năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là Uỷ ban nhân dân xã N, tỉnh Cà Mau). Quá trình chung sống, chị và anh E có 02 người con chung là cháu Dương Thị Tú T, sinh ngày 14/9/2012 và cháu Dương Chí N, sinh ngày 26/7/2016. Hiện nay, cháu N và cháu T đang sống cùng anh E. Về tài sản chung và nợ chung, không có.
Quá trình chung sống, do bất đồng quan điểm sống nên chị và anh E thường xuyên cãi nhau, anh E không lo làm ăn mà thường xuyên ăn nhậu khiến tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được. Chị và anh E đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay mà không có biện pháp gì hàn gắn mối quan hệ vợ chồng.
Vì vây, nay chị yêu cầu ly hôn với anh E. Về con chung, chị đồng ý giao cháu Nguyện và cháu Trinh cho anh E trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ chung, không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị không yêu cầu gì khác.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn anh Dương Văn E từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa xét xử, anh E đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để trình bày ý kiến, Tòa án có đến nhà anh E để tiến hành lấy lời khai nhưng không gặp anh E nên Tòa án không ghi nhận được lời khai của anh E.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau trình bày việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C đối với anh E. Về con chung, giao cháu Dương Thị Tú T, sinh ngày 14/9/2012 và cháu Dương Chí N, sinh ngày 26/7/2016 cho anh E trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, anh E không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị C phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền: Chị Trần Thị C nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn với anh Dương Văn E. Khi khởi kiện, anh E có địa chỉ tại ấp N, xã N, tỉnh Cà Mau. Do vậy, Tòa án nhân dân dân Khu vực 9 – Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị Trần Thị C có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, anh Dương Văn E đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập của Tòa án nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh E theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị C và anh Dương Văn E tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (nay là Uỷ ban nhân dân xã N, tỉnh Cà Mau) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 14 tháng 01 năm 2013 nên hôn nhân giữa chị C và anh E là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Chị Trần Thị C xác định do bất đồng quan điểm sống nên chị và anh E thường xuyên cãi nhau, anh E không lo làm ăn mà thường xuyên ăn nhậu khiến tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn được. Chị và anh E đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay mà không có biện pháp gì hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Tại biên bản xác minh ngày 11 tháng 8 năm 2025, bà Võ Thị Út là mẹ anh Dương Văn E xác định “Trong thời gian chung sống, chị C và anh E bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi nhau khiến cuộc sống không còn hạnh phúc nên đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Hiện nay, anh Dương Văn E đã đi làm xa ở Bình Dương, chỉ lễ, tết mới về thăm gia đình…. Từ khi ly thân đến nay, chị C và anh E không có biện pháp hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Khi Toà án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh E thì bà có thông báo cho anh E nhưng anh E đi làm xa không có thời gian về, anh E đồng ý ly hôn và yêu cầu được nuôi con”. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa chị C và anh E đã không còn hạnh phúc, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh E biết chị C yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến và cũng không thể hiện thiện chí mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị C, điều này thể hiện thông qua việc anh E biết Toà án triệu tập nhưng có thái độ bỏ mặc không đến hòa giải và xét xử. Do đó, chị C yêu cầu được ly hôn với anh E là có căn cứ, phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị C và anh E có hai người con chung là cháu Dương Thị Tú T, sinh ngày 14/9/2012 và cháu Dương Chí N, sinh ngày 26/7/2016. Hiện cháu Trinh và cháu Nguyện đang sống cùng anh E. Khi ly hôn chị C đồng ý giao cháu Trinh và cháu Nguyện cho anh E trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét toàn diện, đảm bảo điều kiện cho con chưa thành niên. Từ khi ly thân đến nay, cháu T và cháu N sống cùng anh E và anh E vẫn chăm sóc các cháu tốt, phát triển bình thường. Đồng thời, cháu T và cháu N cũng có nguyện vọng sống cùng cha nếu cha mẹ ly hôn. Vì vậy, cần giao cháu Dương Thị Tú T, sinh ngày 14/9/2012 và cháu Dương Chí N, sinh ngày 26/7/2016 cho anh E tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, anh E không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con, anh E không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị C xác định quá trình chung sống, chị và anh E không có tài sản chung và nợ chung, chị C, anh E cũng không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị C phải chịu theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Cà Mau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Các Điều 4, 6, 7 và 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị C đối với anh Dương Văn E. Xử cho chị Trần Thị C được ly hôn với anh Dương Văn E.
2. Về con chung: Giao cháu Dương Thị Tú T, sinh ngày 14/9/2012 và cháu Dương Chí N, sinh ngày 26/7/2016 cho anh Dương Văn E tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Trần Thị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Dương Văn E không yêu cầu chị Trần Thị C cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị C xác định không có, chị Trần Thị C và anh Dương Văn E không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Trần Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị Trần Thị C đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0011358 ngày 10 tháng 7 năm 2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Cà Mau được chuyển thu án phí.
6. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND Khu vực 9 – Cà Mau; - Phòng THADS Khu vực 9 – Cà Mau; - UBND xã N, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thị Lệ Thu |