vanban.org

Bản án 38/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P phải liên đới thanh toán nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/8/2025) bao gồm các khoản sau: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NĐ Ngân hàng; BĐ Võ Thu P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/DS-ST
Ngày: 28-8-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Cường

Ông Thái Trung Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 200/2025/TLST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ: Số B L, phường G, thành phố Hà Nội. địa chỉ cũ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc T – Phó Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh V; địa chỉ: Số D, đường N, Khóm A, Phường V, thành phố Cần Thơ. Địa chỉ cũ: Số D, đường N, Khóm A, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Võ Thu P, sinh năm 1962; Ông Sơn M, sinh năm 1959. Cùng địa chỉ: Số B, khóm V, Phường V, thành phố Cần Thơ. (địa chỉ cũ: Số B, khóm V, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng). (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2025 (BL01-02) của nguyên đơn Ngân hàng N cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 29 tháng 08 năm 2023, Ngân hàng N (A) thông qua Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V và bà Võ Thu P, ông Sơn M đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202300956. Theo Hợp đồng thì Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã cho bà Võ Thu P, ông Sơn M vay số tiền: 250.000.000 đồng; mục đích vay: mua bán tạp hóa; lãi suất tại thời điểm vay vốn: 10,5%/năm; thanh toán trả lãi hàng quý, trả nợ gốc 01 lần khi đến hạn; thời hạn vay là 12 tháng

* Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp tài sản sau: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 149/P2/006/2014/HĐTC ngày 09/06/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 16/10/2018 được ký kết giữa bà Võ Thu P, ông Sơn M và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số seri AP 623773, có diện tích 496 m² (loại đất: Đất ở tại nông thôn 219,2 m², đất trồng cây lâu năm 276,8 m²), thửa số 1213, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khóm V, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng do UBND thị xã V cấp cho ông Sơn M và bà Võ Thu P ngày 27/07/2009.

Sau khi ký hợp đồng thì Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã giải ngân cho bà Võ Thu P nhận đủ số tiền vay là 250.000.000 đồng. Sau khi vay thì phía bà Thu P, ông Sơn M không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng. Tính đến hết ngày 28/8/2025 thì bà Võ Thu P còn nợ Ngân hàng N chi nhánh thị xã V tổng số tiền vay gốc và lãi phát sinh là: 294.931.507 đồng, trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 31.643.836 đồng; Nợ lãi quá hạn: 13.287.671 đồng.

Nay Ngân hàng N (A) yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

1. Yêu cầu bà Võ Thu P và ông Sơn M có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N số tiền vay gốc và lãi phát sinh đến ngày 28/8/2025 là: 294.931.507 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 31.643.836 đồng; Nợ lãi quá hạn: 13.287.671 đồng và tiền lãi phát sinh phải trả kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử ( ngày 29/8/2025) cho đến ngày bà Võ Thu P và ông Sơn M trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký số 7606-LAV202300956 ngày 29/08/2023.

2. Nếu bà Võ Thu P và ông Sơn M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Võ Thu P và ông Sơn M theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 149/P2/006/2014/HĐTC ngày 09/06/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 16/10/2018 được ký kết giữa bà Võ Thu P, ông Sơn M và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V để Ngân hàng thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Võ Thu P trình bày tại phiên tòa: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vừa trình bày, do hoàn cảnh gia đình cũng đang khó khăn, đang kiếm người bán đất để trả nợ mà chưa bán được, nên khi nào bán được đất sẽ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Sơn M trình bày tại phiên tòa: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vừa trình bày, do hoàn cảnh gia đình cũng đang khó khăn, đang kiếm người bán đất để trả nợ mà chưa bán được, nên khi nào bán được đất sẽ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng pháp luật, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc các bị đơn phải liên đới thanh toán số tiền còn nợ cho nguyên đơn là: 294.931.507 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 31.643.836 đồng; Nợ lãi quá hạn: 13.287.671 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 29/8/2025) cho đến ngày bà Võ Thu P và ông Sơn M trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký số 7606-LAV202300956 ngày 29/08/2023. Trường hợp bị đơn bà Võ Thu P và ông Sơn M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký để thu hồi nợ. Quyết định nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm đối với đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngân hàng N có ký Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202300956 ngày 29/8/2023 với bên vay bà Võ Thu P và ông Sơn M, mục đích vay để mua bán tạp hóa. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà P và ông M trả nợ không đúng kỳ hạn như thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P và ông M có nghĩa vụ thực hiện trả tiền vốn vay và tiền lãi còn nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng N với bà Võ Thu P và ông Sơn M là tranh chấp về Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn có địa chỉ cư trú ở khóm V, phường V, thành phố Cần Thơ; Địa chỉ cũ: khóm V, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N về việc yêu cầu bị đơn trả tiền vay còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/8/2025). Tổng cộng là: 294.931.507 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 31.643.836 đồng; Nợ lãi quá hạn: 13.287.671 đồng.

Xét Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202300956 ngày 29/8/2023 Hội đồng xét xử thấy: Theo Hợp đồng tín dụng đã ký ngày 29/8/2023 và giấy nhận nợ đề ngày 29/8/2023 bà P nhận tiền vay của Ngân hàng là 250.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng, thỏa thuận lãi suất vay trong hạn 10,5%/năm và lãi suất quá hạn là 150% lãi suất nợ trong hạn. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc bà P và ông M thực hiện trả nợ gốc và lãi, nhưng bà P và ông M vẫn không thực hiện nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận và khoản nợ vay này đã chuyển sang nợ quá hạn. Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các đương sự, bị đơn bà P và ông M thừa nhận không phản đối tình tiết đã giao kết Hợp đồng, cũng không có ý kiến về việc bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép nên Hợp đồng đã ký là hoàn toàn tự nguyện; mục đích sử dụng tiền vay để mua bán tạp hóa là không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng; Hợp đồng còn có chứa đựng đầy đủ các điều kiện cơ bản về số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, phương thức trả nợ, phương thức tính lãi, biện pháp bảo đảm tiền vay cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự. Nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Võ Thu P và ông Sơn M cùng liên đới thanh toán số tiền còn nợ cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử (28/8/2025) là: 294.931.507 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 31.643.836 đồng; Nợ lãi quá hạn: 13.287.671 đồng và các nghĩa vụ tương ứng khác.

Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202300956 ngày 29/8/2023 có lãi suất thỏa thuận 10,5%/năm đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà P và ông M vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị Ngân hàng xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà P và ông M phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có căn cứ chấp nhận.

Xét Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất 149/P2/006/2014/HĐTC ngày 09/06/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 16/10/2018 được ký kết giữa bà Võ Thu P, ông Sơn M và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V

Hội đồng xét xử thấy: Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ bà P và ông M đã dùng tài sản là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 623773, có diện tích 496 m² (loại đất: Đất ở tại nông thôn 219,2 m², đất trồng cây lâu năm 276,8 m²), thửa số 1213, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khóm V, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nay là khóm V, phường V, thành phố Cần Thơ, do UBND thị xã V cấp cho ông Sơn M và bà Võ Thu P ngày 27/07/2009. Các bên tham gia có đủ điều kiện về chủ thể, hoàn toàn tự nguyện, mục đích không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức, xã hội và có đăng ký giao dịch bảo đảm. Do đó, Hợp đồng thế chấp tài sản và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng. Nếu bà P và ông M không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là đúng theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà các bên đã ký kết.

Căn cứ vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/7/2025 quyền sử dụng đất được đương sự thế chấp cho Ngân hàng, có đặc điểm sau:

- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 623773, có diện tích 496 m² (loại đất: Đất ở tại nông thôn 219,2 m², đất trồng cây lâu năm 276,8 m²), thửa số 1213, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khóm V, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, nay là khóm V, phường V, thành phố Cần Thơ, do UBND thị xã V cấp cho ông Sơn M và bà Võ Thu P ngày 27/07/2009. Tài sản trên đất: gồm có 02 căn nhà hiện do ông Sơn M và bà Võ Thu P đang quản lý, sử dụng. Kết cấu: nhà xây tường, vách tường, mái lợp tol xi măng, nền lát gạch men.

Đối với các bị đơn trình bày do hoàn cảnh khó khăn nên chờ bị đơn kiếm người bán đất sẽ thanh toán nợ cho Ngân hàng nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý, vấn đề này sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Lời trình bày của bị đơn là không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 29/8/2025) bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202300956 ngày 29/8/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P phải liên đới chịu. Do Ngân hàng N đã tạm ứng trước nên ông M và bà P có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại số tiền nêu trên cho Ngân hàng.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P có nghĩa vụ chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Do các bị đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên các bị đơn được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 325; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 7; khoản 2 Điều 8; Điều 10; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P phải liên đới thanh toán nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/8/2025) bao gồm các khoản sau:

- Nợ gốc: 250.000.000 đồng;

- Nợ lãi trong hạn: 31.643.836 đồng;

- Nợ lãi quá hạn: 13.287.671 đồng;

Tổng cộng 294.931.507 đồng (hai trăm chín mươi bốn triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm lẽ bảy đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 29/8/2025) ông Sơn M và bà Võ Thu P còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV202300956 ngày 29/8/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Sơn M và bà Võ Thu P không thanh toán số tiền nêu trên thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/P2/006/2014/HĐTC ngày 09/06/2014 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐTC ngày 16/10/2018 được ký kết giữa bà Võ Thu P, ông Sơn M với Ngân hàng N Chi nhánh V để Ngân hàng thu hồi nợ.

Tài sản phát mãi gồm:

- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 623773, có diện tích 496 m² (loại đất: Đất ở tại nông thôn 219,2 m², đất trồng cây lâu năm 276,8 m²), thửa số 1213, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khóm V, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng nay là khóm V, phường V, thành phố Cần Thơ, do UBND thị xã V cấp cho ông Sơn M và bà Võ Thu P ngày 27/07/2009. Tài sản trên đất: gồm có 02 căn nhà hiện đang do ông Sơn M và bà Võ Thu P quản lý, sử dụng. Kết cấu: nhà xây tường, vách tường, mái lợp tol xi măng, nền lát gạch men.

4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 1.000.000 đồng (một triệu đồng) bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P phải liên đới chịu. Do Ngân hàng N đã tạm ứng trước nên ông M và bà P có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại số tiền nêu trên cho Ngân hàng.

5. Về án phí sơ thẩm:

- Bị đơn ông Sơn M và bà Võ Thu P phải chịu 7.373.288 đồng (bảy triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm tám mươi tám đồng). Do ông Sơn M và bà Võ Thu P là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên ông M và bà P được miễn án phí.

- Ngân hàng N không phải chịu án phí sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 7.145.000 đồng (bảy triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002128 ngày 06/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, nay là Thi hành án dân sự thành phố C (Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8 – Cần Thơ).

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ