vanban.org

Bản án 38/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II: Buộc ông Phạm Văn Th và bà Hù Thị R phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II - Phòng giao dịch…

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "ngân hàng A anh Th chị R"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II: Buộc ông Phạm Văn Th và bà Hù Thị R phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II - Phòng giao dịch…
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/DS-ST
Ngày 15-9-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt; Ông Tống Đăng Mạnh.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trịnh Duy Tùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chuyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15/9/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 33/2025/TLST-DS ngày 01/7/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST - DS ngày 11/8/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 28/2025/QĐST-DS ngày 27/8/2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)

Đơn vị được ủy quyền: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II.

Đại diện theo ủy quyền: Người được uỷ quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Giám đốc phòng giao dịch Kim “có mặt”.

Bị đơn: Ông Phạm Văn Th, sinh năm 1978 “vắng mặt”.

Bà Hù Thị R, sinh năm 1985 “vắng mặt”.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã Q, thị xã C, tỉnh Bắc Giang (Nay là Tổ dân phố M, phường S, tỉnh Bắc Ninh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Ngày 23/01/2019, ông Phạm Văn Th có gửi đề nghị vay vốn đến Agribank

- Chi nhánh Lục Ngạn Bắc Giang II (nay là chi nhánh C Bắc Giang II) - Phòng giao dịch Kim với mục đích vay đầu tư làm vườn. Sau khi xem xét thẩm định, Agribank Chi nhánh huyện Lục Ngạn Bắc Giang II - Phòng giao dịch Kim đã phê duyệt số tiền cho vay là 1.000.000.000đ tại hợp đồng tín dụng, số 2504LAV201900384 ngày 23/01/2019.

Ngày 24/01/2019, Agribank đã giải ngân số tiền: 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) cho vợ chồng ông Phạm Văn Th và bà Hù Thị R vay; Mục đích: Nâng cấp cải tạo vườn và trồng cây ăn quả; Thời hạn cho vay: 60 tháng; Lãi suất 10,5%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; Định kỳ hạn trả nợ:

+ Ngày 22/01/2020 trả gốc: 100.000.000 đồng

+ Ngày 22/01/2021 trả gốc: 100.000.000 đồng

+ Ngày 22/01/2022 trà gốc: 200.000.000 đồng

+ Ngày 22/01/2023 trả gốc: 200.000.000 đồng

+ Ngày 22/01/2024 trả gốc: 400.000.000 đồng

- Ngày 22/01/2022 đến hạn trả nợ gốc Ngân hàng số tiền 150.000.000 đồng, ông Phạm Văn Th không trả được nợ cho ngân hàng. Ngày 23/01/2022 Agribank Chi nhánh huyện Lục Ngạn Bắc Giang II- Phòng giao dịch Kim đã chuyển sang nợ quá hạn, số tiền gốc: 150.000.000đồng và toàn bộ số lãi phát sinh kèm theo. Đến ngày 23/01/2023 Agribank Chi nhánh huyện Lục Ngạn Bắc Giang II - Phòng giao dịch Kim đã chuyển tiếp số tiền: 200.000.000 đồng sang nợ quá hạn. Dư nợ đến ngày 14/02/2025, số tiền gốc: 750.000.000 đồng + Số tiền lãi: 351.555.155 đồng. Qua nhiều lần đôn đốc nhắc nhở đến nay ông Phạm Văn Th, bà Hù Thị R vẫn chưa trả được nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu ông Phạm Văn Th, bà Hù Thị R tính đến ngày xét xử sở thẩm ngày 15/9/2025 phải trả tổng số tiền là: 1.182.013.517 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi hai triệu không trăm mười ba nghìn năm trăm mười bẩy đồng), trong đó: Nợ gốc: 750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 325.409.590đồng; Nợ lãi quá hạn: 106.603.927 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Phạm Văn Th và bà Hù Thị R nhưng bị đơn không trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và cũng như không đến Tòa án làm việc.

Tại biên bản xác minh ở địa phương cung cấp: Ông Phạm Văn Th và bà Hù Thị R có đăng ký hộ khẩu thường trú ở thôn M, xã Q nhưng vắng mặt nơi cư trú, không biết cụ thể thời gian ở nhà; Hiện ông Th, bà R không thấy đăng ký tạm trú ở địa chỉ khác.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Bắc Ninh phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự; Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng các Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 12 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện Agribank Việt Nam - Chi nhánh C Bắc Giang II: Buộc ông Phạm Văn Th, bà Hù Thị R có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 15/9/2025 tổng số tiền nợ là: 1.182.013.517 đồng (Một tỷ một trăm tám mươi hai triệu không trăm mười ba nghìn năm trăm mười bẩy đồng), trong đó: Nợ gốc: 750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 325.409.590đồng; Nợ lãi quá hạn: 106.603.927 đồng; Ngoài ra còn đề xuất về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn tại Tổ dân phố TDP M, phường S, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

Về nội dung: Theo tài liệu chứng cứ Ngân hàng cung cấp vào ngày 23/01/2019, ông Phạm Văn Th có gửi đề nghị vay vốn đến Agribank- Chi nhánh huyện Lục Ngạn Bắc Giang II (nay chi nhánh C Bắc Giang II) với mục đích vay đầu tư làm vườn. Sau khi xem xét thẩm định, Agribank Chi nhánh huyện Lục Ngạn Bắc Giang II - Phòng giao dịch Kim đã phê duyệt số tiền cho vay là 1.000.000.000đ tại hợp đồng tín dụng, số 2504LAV201900384 ngày 23/01/2019. Ngày 24/01/2019, Agribank đã giải ngân số tiền: 1.000.000.000 đồng; Thời hạn cho vay: 60 tháng. Khi vay hai bên có ký kết hợp đồng tín dụng có chữ ký của ông Phạm Văn Th; bà Hà Thị R đã có giấy ủy quyền để ông Th vay tiền Ngân hàng. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên xác lập một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, tuân thủ tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thấy Hợp đồng tín dụng được lập giữa ông Th, bà R và Ngân hàng là hợp pháp nên phát sinh hiệu lực thi hành giữa các bên.

Về lãi suất: Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng thì thì lãi suất cho vay được xác định bằng mức lãi suất cơ sở + biên độ /lãi lề (%); kỳ điều chỉnh lãi suất 03 tháng/lần, lãi suất trong hạn 10.5%/năm trên số dư nợ gốc, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Hội đồng xét xử thấy thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với các quy định của pháp luật về lãi suất cho vay. Việc tính lãi suất của Ngân hàng được tính theo đúng quy định của hợp đồng, phù hợp với từng giai đoạn điều chỉnh lãi suất và quy định về áp dụng lãi suất của Ngân hàng quy định tại thời điểm điều chỉnh.

Theo các tài liệu, quyết định về việc ban hành điều chỉnh mức lãi suất cho vay áp dụng tại từng thời kỳ và đối chiếu với bảng tính lãi thống kê chi tiết của Ngân hàng cung cấp số tiền nợ tạm tính đến ngày 15/9/2025 tiền nợ tổng là 1.182.013.517 đồng; Trong đó: Nợ gốc: 750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 325.409.590đồng; Nợ lãi quá hạn: 106.603.927 đồng.

Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho Ngân hàng, lỗi vi phạm hợp đồng vay thuộc về bị đơn kéo dài thời gian trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự; các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 12 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Th, bà R phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ trên cho Ngân hàng và tiếp tục phải lãi phát sinh theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử (ngày 15/9/2025) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí:

- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Th, bà R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật dân sự; các Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 12 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II: Buộc ông Phạm Văn Th và bà Hù Thị R phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II - Phòng giao dịch Kim: tính đến ngày 15/9/2025 là: 1.182.013.517đ (Một tỷ một trăm tám mươi hai triệu không trăm mười ba nghìn năm trăm mười bẩy đồng); Trong đó: Nợ gốc: 750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 325.409.590đồng; Nợ lãi quá hạn: 106.603.927 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

2. Về án phí: Buộc ông Phạm Văn Th, bà Hù Thị R phải chịu 47.460.400đ (Bốn mươi bẩy triệu bốn trăm sáu mươi nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh C, Bắc Giang II số tiền 27.500.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã C (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Bắc Ninh) theo biên lai thu số 0003163 ngày 10 tháng 4 năm 2025.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ