- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh T phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HSST Ngày 04 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Minh Nam.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tài Hòa.
2. Ông Tạ Xuân Xế.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04/4/2024. Tại TAND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS, ngày 05/3/2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 22/3/2024 đối với bị cáo.
Bùi Thanh T, sinh năm 2002; HKTT: Xóm N, xã Ph, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L; Và bà Bùi Thị Q; Gia đình có 02 anh chị em, bản thân là thứ nhất; Vợ, con chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án số: 21/2020/HSST, ngày 24/8/2020 của TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 28/01/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2024 đến nay có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
Người bào chữa cho bị cáo Bà Phan Thị Thu H– Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh (xin vắng mặt).
Người tham gia tố tụng khác.
1. Cán bộ hỗ trợ tư pháp Công an huyện Yên Phong: Ông Trần Văn Đ.
2. Kỹ thuật viên vi tính: Ông Nguyễn Đức Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/01/2024, tại thôn Ngô Xá, xã Long Châu, huyện Yên Phong. Tổ tuần tra phòng PK 02 – Công an tỉnh Bắc Ninh bắt quả tang Bùi Thanh T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của T 01 gói giấy bạc trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng.
Tại bản Kết luận giám định số 352/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,3065 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine.
Quá trình điều tra đã làm rõ: Do bản thân thường sử dụng ma túy nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/01/2024 Bùi Thanh T đi bộ đến thôn Ngô Xá để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây T gặp và mua của một người đàn ông không biết 300.000 đồng được 01 gói ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy T đi bộ để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng công an bắt quả tang cùng tang vật.
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 29 ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Bùi Thanh T về tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý " theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Bùi Thanh T khai nhận bản thân thường sử dụng ma túy nên ngày 09/01/2024 bị cáo đến khu vực thôn Ngô Xá gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 300.000 đồng được 01 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy bị cáo đi tìm nơi để sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ được gói ma túy bị cáo vừa mua. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” là đúng.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận về vụ án và giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX.
Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt.
Bùi Thanh T từ 22 đến 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong 01 trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh; 01 phong bì thư dán kín que thử nước tiểu của Bùi Thanh T ngày 09/01/2024 .
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt và gửi bài phát biểu luận cứ bào chữa cho bị cáo. Về tội danh, điều luật áp dụng người bào chữa cho bị cáo nhất trí với với cáo trạng của VKS. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Bị cáo nhận tội, nhất trí với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là có căn cứ và phù hơp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật đã thu giữ, kết quả giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Bùi Thanh T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý ". Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[ 3 ] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp tới chế độ độc quyền quản lý đối với các chất gây nghiện nói chung và ma tuý nói riêng của nhà nước. Bị cáo hoàn toàn ý thức được mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ các chất ma tuý là vi phạm pháp luật, song để thoả mãn cho những nhu cầu ích kỷ của bản thân ngày 09/01/2024 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3065 gam Heroine và bị Công an bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong cộng đồng dân cư mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như là nguyên nhân lây truyền các loại bệnh xã hội trong đó có HIV và AIDS. Xét thấy cần xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[ 4 ] Xét nhân thân và thái độ của bị cáo HĐXX nhận thấy. Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu, năm 2020 đã bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chưa được xóa án tích). Sau khi chấp hành xong hình phạt tù được trở về với gia đình và xã hội nhưng bị cáo lại không coi thời gian cải tạo, giáo dục trong trại giam là bài học để cảnh tỉnh bản thân, làm lại cuộc đời mà tiếp tục phạm tội về ma túy. Bị cáo có đủ nhận thức để biết được những tác hại của ma tuý gây ra cho bản thân người nghiện, cho gia đình và cho xã hội, nhưng để thoả mãn cho những cơn nghiện của bản thân bị cáo đã nhiều lần sử dụng ma tuý và ngày 09/01/2024 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,3065 gam Heroine thì bị bắt. Tuy lượng ma tuý bị cáo tàng trữ không nhiều và mục đích là để sử dụng cho bản thân nhưng lần phạm tội này đối với bị cáo bị coi tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét thấy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt cho xã hội. Song khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì xét thấy sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập và tài sản riêng.
[ 5 ] Đối với người đàng ông bán ma tuý cho bị cáo ngày 09/01/2024 bản thân bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
[ 6 ] Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định và 01 phong bì thư dán kín que thử nước tiểu của Bùi Thanh T ngày 09/01/2024.
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, Điều 329 BLTTHS xử phạt.
Bùi Thanh T 22 (hai hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/4/2024.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh; 01 phong bì thư dán kín que thử nước tiểu của Bùi Thanh T ngày 09/01/2024.
Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bào chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án. Nơi nhân:
| - Toà án tỉnh. - VKSND huyện Yên Phong. - Bị cáo. - Người tham gia tố tụng khác. - THA huyện Yên Phong. - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Minh Nam |