- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tin phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 30-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ to ̣a phiên tòa: bà Trần Thị Mỹ Trinh
Các Hô ̣i thẩm nhân dân:
+ ông Nguyễn Công Phúc
+ ông Tô Đình Trị
- Thư ký phiên tòa: ông Hồ Quốc Việt, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thăng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: ông Trương Công Trình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn T; giới tính: nam; sinh năm 1992 tại Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nơi ĐKHKTT: thôn L, xã Q, huyện QS, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Nguyễn Sinh, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Ba, sinh năm 1962; tiền sự: không
Tiền án:
- Ngày 29/5/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số 09/2012/HSPT;
- Ngày 05/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 41/2012/HSST;
- Ngày 25/7/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 35/2012/HSST;
- Ngày 10/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 15/2019/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thăng Bình, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Tổng công ty Điện lực M. Địa chỉ: 78A, D, phường Đ, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Tấn C, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn H, chức vụ: giám đốc công ty điện lực Quảng Nam. Địa chỉ: Số 05 Trần Hưng Đạo, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (văn bản uỷ quyền số 1771/GUQ-EVNCPC ngày 15/3/2024 của Tổng công ty Điện lực M), ông Nguyễn H uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn M, chức vụ: giám đốc điện lực Thăng Bình. Địa chỉ: quốc lộ 1A, xã B, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (văn bản uỷ quyền số 2566/GUQ-QnaPC ngày 27/5/2024 (ông Minh có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: trong khoảng thời gian từ tháng 9/2013 đến tháng 10/2023, Nguyễn T chuẩn bị 01 (một) kìm bấm bằng kim loại và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 92G1-140.87 (thuộc sở hữu của Nguyễn T) đi từ huyện Q đến huyện Thăng Bình tìm các trạm biến áp do Điện lực huyện Thăng Bình quản lý tại những nơi vắng người qua lại để cắt trộm dây và hệ thống tiếp địa. Cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: vào chiều ngày 09/9/2023, Nguyễn T điều khiển xe mô tô BKS: 92G1-140.87 mang theo 01 cái kiềm bấm bằng kim loại đi từ huyện Q đến trạm biến áp Quý Phước XT 474TBI thuộc thôn Quý Phước, xã Bình Quý, huyện Thăng Bình cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x120mm2 dài 2,5 mét và 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35 mm2 dài 3 mét cuộn tròn lại rồi bỏ lên phía trước xe mô tô chở về Quế Sơn. Trên đường về, Tin gặp 01 người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) đi thu mua đồng nát nên dừng lại bán số dây đồng cho người phụ nữ được 300.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ hai: vào sáng ngày 21/9/2023, Nguyễn T điều khiển xe mô tô BKS: 92G1-140.87 mang theo 01 cái kiềm bấm bằng kim loại đến trạm biến áp T3 Bình Triều XT 476TBI thuộc thôn Phước Ấm, xã Bình Triều, huyện Thăng Bình cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35 mm2 dài 10 mét rồi cuộn tròn lại để trên xe mô tô đi về hướng Hà Lam. Trên đường về, Tin bán số dây đồng vừa trộm cắp được cho 01 người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) đi thu mua đồng nát được 400.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ ba: vào chiều ngày 18/10/2023, Nguyễn T điều khiển xe mô tô BKS: 92G1-140.87 mang theo 01 cái kiềm bấm bằng kim loại đến trạm biến áp Tiên Đỏa XT 476TBI thuộc thôn T, xã B, huyện Thăng Bình cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x120 mm2 dài 8 mét, 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x70 mm2 dài 8 mét và 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35 mm2 dài 5 mét rồi cuộn tròn lại để trên xe mô tô đi về hướng Hà Lam. Trên đường về, Tin bán số dây đồng vừa trộm cắp được cho 01 người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) đi thu mua đồng nát trên đường được 600.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 87/KL-HĐĐG ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thăng Bình kết luận:
- 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x120 mm2 dài 2,5 mét và 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35 mm2 dài 3 mét mất tại trạm biến áp Quý Phước XT 474TBI trị giá là 936.720 đồng;
- 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35 mm2 dài 10 mét mất tại trạm biến áp T3 Bình Triều XT 476 TBI trị giá 722.400 đồng;
- 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x120mm2 dài 8 mét, 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x70mm2 dài 8 mét và 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35mm2 dài 5 mét mất tại trạm biến áp Tiên Đỏa XT 476TBI trị giá 6.049.600 đồng.
Tổng giá trị tài sản trộm cắp được là 7.708.720 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 32/CT-VKSTB-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình truy tố bị cáo Nguyễn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Tphạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra truy tố, Công ty điện lực Quảng Nam đã lắp đặt thiết bị vật tư, đưa các Trạm biến áp trên vào tiếp tục khai thác sử dụng và có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.971.293 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 kiềm bấm bằng kim loại; Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô BKS 92G1-140.87.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Txin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Thăng Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung: tại phiên tòa bị cáo Nguyễn T khai nhận: Vào các ngày 09/9/2023, 21/9/2023, 18/10/2023, Nguyễn T đã có hành vi trộm cắp dây cáp đồng tại các trạm biến áp xã Q, B, S huyện Thăng Bình với giá trị tài sản chiếm đoạt lần lượt là 936.720 đồng, 722.400 đồng, 6.049.600 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung trình báo của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ được cơ quan điều tra thu thập, chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 10/2023, bị cáo Nguyễn T đã điều khiển xe mô tô BKS: 92G1-140.87 mang theo 01 cái kiềm bấm bằng kim loại đến các Trạm biến áp trên địa bàn các xã Q, B, S huyện Thăng Bình của Tổng công ty Điện lực M lén lút thực hiện 03 lần cắt trộm dây cáp đồng đem bán phế liệu lấy tiền tiêu xài. Cụ thể: lần 01 vào ngày 09/9/2023 cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x120 mm2 dài 2,5 mét và 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35 mm2 dài 3 mét trị giá là 936.720 đồng; lần 02 vào sáng ngày 21/9/2023 cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35 mm2 dài 10 mét trị giá 722.400 đồng; lần 03 vào chiều ngày 18/10/2023 cắt trộm 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x120mm2 dài 8 mét, 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x70mm2 dài 8 mét và 01 đoạn dây cáp đồng loại MV600v 1x35mm2 dài 5 mét trị giá 6.049.600 đồng. Tổng giá trị tài sản của Tổng công ty Điện lực M bị chiếm đoạt là 7.708.720 đồng. Ngoài ra, bị cáo có 04 tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, tại bản án số 15/2019/HSST ngày 10/5/2019 của Toà án nhân dân huyện Q xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, đối với khoản án phí HSST của bản án nêu trên bị cáo chưa thi hành. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Tthuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố số 32/CT-VKSTB-HS ngày 15/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ; mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Bị cáo hiểu, nhận thức được điều đó, nhưng do bản tính lười lao động, đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, lén lút chiếm đoạt trái pháp luật. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn T có 04 tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản", đến nay chưa được xóa án tích mà tiếp tục nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mẹ và ông bà ngoại của Nguyễn T có công với cách mạng. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đối với bị cáo là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Những vấn đề liên quan cần giải quyết trong vụ án:
Đối với những người phụ nữ đã mua dây cáp đồng do Nguyễn T trộm cắp, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch và bị cáo Tin khai những người này không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên không có cơ sở để xử lý.
Về phần dân sự: Tại phiên toà bị cáo và bị hại thoả thuận bồi thường số tiền 14.971.293 đồng nên ghi nhận, buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho Tổng công ty Điện lực M số tiền 14.971.293 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô BKS: 92G1-140.87 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 kiềm bấm bằng kim loại là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, đại diện hợp pháp bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: bị cáo Nguyễn T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 12/01/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. Xử công nhận thoả thuận giữa bị cáo và bị hại: buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường cho Tổng công ty Điện lực M số tiền 14.971.293 đồng (Mười bốn triệu chín trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm chín mươi ba đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 kiềm bấm bằng kim loại
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô BKS: 92G1-140.87.
(Vật chứng hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thăng Bình, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2024).
4. Về án phí: bị cáo Nguyễn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 748.000 đồng (Bảy trăm bốn mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/5/2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam; - VKS nhân dân tỉnh Quảng Nam; - VKSND huyện Thăng Bình; - Chi cục THADS huyện Thăng Bình; - Công an huyện Thăng Bình; - Những người TGTT. - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Mỹ Trinh |