vanban.org

Bản án 38/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 03/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày 08/12/2023. Về xử lý vật chứng: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Tuấn-trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC BÌNH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HSST
Ngày 03/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bá Đình Tâm

Bà Nguyễn Thị Hạnh

Thư ký phiên tòa: Ông Bá Văn Nhân -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 4 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình và Điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình, Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/HSST, ngày 19/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 22/3/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: B1), sinh năm 1997, tỉnh Bình Thuận

NĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Thanh V và bà Biều Thị H1; Anh, chị, em ruột: Gia đình bị cáo có 04 người, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: không có.

Tiền sự: không

Tiền án: có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản, cụ thể: Tại Bản án số 120/2016/HSST ngày 21/7/2016 bị Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết xử phạt 06 tháng tù giam, về địa phương từ ngày 12/11/2016; Tại Bản án số 59/2017/HSST ngày 09/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xử phạt 09 tháng tù giam; về địa phương từ ngày 27/4/2018; Tại Bản án số 38/2021/HSST ngày 25/3/2021 bị Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết xử phạt 24 tháng tù giam (áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm") về địa phương từ ngày 29/3/2023.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam tỉnh Bình Thuận.

Bị hại: Bà Lư Thị Mỹ H, sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn M, xã A, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Ông Đa Văn Thắng, Thư ký Tòa án tham gia tại điểm cầu thành phần

+ Ông Diên Bình Thanh, ông Hồ Đình Trương, ông Trần Hiếu và ông Nguyễn Văn Thông, Chiến sĩ Công an nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, do không có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thanh T nảy sinh ý định đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Lúc đó, T đang ngồi ở khu vực trước cổng ra vào chợ xã Phan Rí Thành nhìn thấy chị Lư Thị Mỹ H điều khiển xe mô tô biển số 86B2-807.36 chở phía sau là con trai Nguyễn Gia B1 trú tại thôn M, xã A, huyện B, tỉnh Bình Thuận đến quán Ánh Ngà thuộc thôn L, xã P, huyện B để mua trái cây. T tiếp tục quan sát thấy chị H dựng xe sát lề đường phía trước quán, còn cháu B1 vẫn ngồi trên yên xe, chị H đưa điện thoại cho cháu B1 chơi, còn chị H đi vào quán mua trái cây. Sau đó, T thấy cháu B1 để điện thoại vào trong một cái giỏ đựng đồ được gắn cố định ở phía dưới tay lái bên trái của mặt trong bửng chắn gió của xe mô tô biển số 86B2-807.36. Lợi dụng lúc chị H không chú ý, cảnh giác, T đi đến sát bên hông bên phải chiếc xe và dùng tay trái thò vào cái giỏ lấy cái điện thoại nhãn hiệu Vivo màu bạc của chị H và bỏ điện thoại vào túi quần bên trái rồi đi thẳng đến nhà người thanh niên tên Lê Hồng H để hỏi bán. Tại đây, T đưa chiếc điện thoại cho H xem và hỏi: “Có mua hay không?” thì H không mua và nói: "Đem bán cho ai thì bán!”. Sau đó T tháo chiếc sim điện thoại ra vứt bỏ trên đường đi, T tiếp tục cầm điện thoại đi tìm nơi tiêu thụ. Sau khi mua trái cây xong, chị H lấy xe đi về, trên đường về nhà chị H có hỏi cháu B1 điện thoại đâu thì B1 trả lời “Lúc nãy con để trong giỏ, có một chú tới gần xe lấy đi rồi”. Nghe vậy, chị H chạy xe đến quán Ánh Ngà để hỏi thì được người dân xung quanh kể lại là có một đối tượng tên gọi là B thường xuyên đi lang thang, xin tiền ở khu vực chợ, lúc nãy có đến gần xe của chị H. Do đó chị H đến Công an xã Phan Rí Thành trình báo vụ việc. Nhận được tin tố giác Công an xã Phan Rí Thành tiến hành tuần tra truy tìm đối tượng. Khi T đang đi bộ trên tuyến đường Quốc lộ 1A nhìn thấy lực lượng Công an xã Phan Rí Thành nên T bỏ chạy, do sợ bị bắt nên T ném điện thoại vừa trộm được vào trong sân bê tông nhà dân gần đó rồi tiếp tục chạy vào một con hẻm để trốn, sau đó T bị Công an xã Phan Rí Thành phát hiện và mời về trụ sở làm việc. Qua đấu tranh, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp nêu trên của mình. Căn cứ lời trình bày của T, Công an xã Phan Rí Thành đã truy tìm, thu giữ được cái điện thoại mà T vứt bỏ. Hiện trạng khi thu giữ, điện thoại bị nứt bể màn hình do va đập dưới nền sân bê tông. T khai do sợ bị Công an xã Phan Rí Thành phát hiện nên T ném chiếc điện thoại trên nhằm mục đích tẩu tán tang vật. Công an xã Phan Rí Thành đã chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra để giải quyết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 74/2023/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bắc Bình kết luận:

Giá trị tài sản của 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu trắng, Ram 4GB, Rom 64GB, số Imei: 861428057140015, mua mới vào năm 2021 tại thời điểm ngày 20/9/2023 (chưa bị hư hỏng phần màn hình) là 2.145.000 đồng.

Giá trị thiệt hại của tài sản là 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu trắng, Ram 4GB, Rom 64GB, số imei: 861428057140015, mua mới vào năm 2021 bị nứt, bể màn hình điện thoại tại thời điểm ngày 20/9/2023 là 481.000 đồng.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và việc xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) cái điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu trắng, Ram 4GB, Rom 64GB, số Imei: 861428057140015. Sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Lư Thị Mỹ H.

Về phần bồi thường dân sự: Bị hại Lư Thị Mỹ H đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Bản cáo trạng số 31/CT-VKS-HBB ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng:

- Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo, Nguyễn Thanh T mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Về vật chứng: Đối với 01 (một) cái điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu trắng, Ram 4GB, Rom 64GB, số Imei: 861428057140015. Sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Lư Thị Mỹ H.

Về phần bồi thường dân sự: Bị hại Lư Thị Mỹ H đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét, giải quyết.

Lời nói sau cùng của bị cáo T: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra – Công an huyện Bắc Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại và tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ và hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 18 giờ ngày 20/9/2023, tại thôn Bình Lễ, xã Phan Rí Thành, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận do Nguyễn Thanh T lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21, màu trắng, Ram 4GB, Rom 64GB, số Imei: 861428057140015, trị giá là 2.145.000 đồng của Lư Thị Mỹ H bị phát hiện.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T, về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thanh T là công dân có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích muốn có tiền để sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi của mình. Nguyễn Thanh T có 03 tiền án tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, vì vậy cần phải nghiêm minh.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo trên cơ sở cân nhắc các tình tiết của vụ án xét thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại theo đúng quy định của pháp luật.

Về phần dân sự: Bị hại Lư Thị Mỹ H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian ở tù tính từ ngày 08/12/2023.

Về xử lý vật chứng: Không.

Về phần dân sự: Không

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận dược bản án hay bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ