vanban.org

Bản án 38/2024/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 27/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Lã Duy F; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T…

Tuyên bố bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo Đàm Trì A 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 04 tháng 8 năm 2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "gây rối - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Lã Duy F; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HS-PT
Ngày 27-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Hải Yến

Ông Nguyễn Hồng Giang

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLPT-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Nguyễn Việt D, Trịnh Đức E, Lã Duy F do có kháng cáo của bị cáo Vũ Khánh C, bị cáo Trịnh Đức E, bị cáo Nguyễn Việt D, bị cáo Lã Duy F và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Nguyễn Việt D, Lã Duy F, Trịnh Đức E đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Đàm Trì A, sinh ngày 13 tháng 12 năm 2006 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 04 tháng 16 ngày) tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 4, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Trì Thái và bà Nguyễn Thị Ninh; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 186 ngày 12/5/2023, bị Công an huyện Thủy Nguyên xử lý vi phạm hành chính về hành vi mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác; bị cáo bị tạm giam từ ngày 04 tháng 8 năm 2023; có mặt.

2. Đỗ Đăng B, sinh ngày 20 tháng 12 năm 2006 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 04 tháng 08 ngày) tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 5, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đăng Thương và bà Trần Thị Phượng; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 187 ngày 12/5/2023, bị Công an huyện Thủy Nguyên xử lý vi phạm hành chính về hành vi mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác; bị cáo bị tạm giam từ ngày 04 tháng 8 năm 2023; có mặt.

3. Vũ Khánh C, sinh ngày 17 tháng 01 năm 2007 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 03 tháng 11 ngày) tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 4, xã Gia Đức, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn Khánh và bà Vũ Thị Nhương; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/5/2023, bị Công an huyện Thủy Nguyên xử lý vi phạm hành chính về hành vi mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương; đồ vật, phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác; bị bắt tạm giam từ ngày 04 tháng 8 năm 2023; có mặt.

4. Trịnh Đức E, sinh ngày 27 tháng 11 năm 2006 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 05 tháng 01 ngày) tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ dân phố Quyết Tâm, thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn Bài và bà Bùi Thị Hường; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2023; có mặt.

5. Nguyễn Việt D, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2006 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 06 tháng 12 ngày); tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đà Nẵng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Lan và bố không xác định được; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2023; có mặt.

6. Lã Duy F, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2006 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội 16 tuổi 06 tháng 22 ngày); tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lã Văn Kiên và bà Trịnh Thị Vân; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07 tháng 9 năm 2023; có mặt.

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Ngoài ra còn có 02 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đàm Trì A: Ông Đàm Trì Thái, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị Ninh, sinh năm 1990; cùng địa chỉ: Thôn 4, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (bố mẹ của bị cáo); cùng có mặt;

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Đăng B: Ông Đỗ Đăng Thương, sinh năm 1986 và bà Trần Thị Phượng, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: Thôn 5, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (bố mẹ của bị cáo); cùng có mặt;

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Khánh C: Ông Vũ Văn Khánh, sinh năm 1984 và bà Vũ Thị Nhương, sinh năm 1983; cùng địa chỉ: Thôn 4, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (bố mẹ của bị cáo); cùng có mặt;

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Việt D: Bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (mẹ của bị cáo); vắng mặt;

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lã Duy F: Ông Lã Văn Kiên, sinh năm 1971 và bà Trịnh Thị Vân, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Thắng, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (bố mẹ của bị cáo); ông Kiên có mặt, bà Vân vắng mặt;

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trịnh Đức E: Ông Trịnh Văn Bài, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị Hường, sinh năm 1973; cùng địa chỉ: Tổ dân phố Quyết Tâm, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (bố mẹ của bị cáo); ông Bài vắng mặt, bà Hương có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Trịnh Đức E; Nguyễn Việt D: Ông Bùi Văn Bình – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Khánh C:

+ Bà Nguyễn Thị Hồng Thư - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

+ Ông Nguyễn Văn Thuộm, ông Đinh Phú Mạnh và ông Đinh Hữu Chuẩn – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Bạch Đằng Giang, Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng; ông Thuộm và ông Mạnh có mặt, ông Chuẩn vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lã Duy F: Bà Đoàn Thị Huế - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Đại diện Trường Trung học phổ thông Nam Triệu nơi bị cáo Nguyễn Việt D và bị cáo Lã Duy F đang học - Bà Hoàng Thị Linh; vắng mặt.

- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Đại diện Trường Trung học phổ thông Bạch Đằng nơi bị cáo Trịnh Đức E đang học; vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị cáo Vũ Khánh C, Nguyễn Việt D, Lã Duy F, Trịnh Đức E; người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Lã Duy F.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước với anh Lý Đức Thái sinh ngày 30/01/2008 (15 tuổi 03 tháng), ở thôn 4, xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên nên tối ngày 28/4/2023, Đàm Trì A rủ Vũ Khánh C, Đỗ Đăng B, Nguyễn Văn Đông, Nguyễn Việt D, Lã Duy F, Trịnh Đức E, Phạm Tiến Thiện; Vũ Quang Tuấn Anh, sinh ngày 15/12/2007 (15 tuổi 04 tháng 13 ngày) ở thôn 4, xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên; Nguyễn Quang Huy, sinh ngày 22/5/2008 (14 tuổi 11 tháng 06 ngày) ở thôn 2, xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên; Trần Anh Quân, sinh ngày 09/9/2008 (14 tuổi 07 tháng 19 ngày), Trần Anh Quyền, sinh ngày 09/9/2008 (14 tuổi 07 tháng 19 ngày), Bùi Ngọc Phúc sinh ngày 03/02/2009 (14 tuổi 02 tháng 25 ngày), Lê Đức Mạnh, sinh ngày 21/9/2007 (15 tuổi 07 tháng 07 ngày), Hồ Nam Tiến, sinh ngày 14/7/2008 (14 tuổi 09 tháng 14 ngày) đều ở thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên; Nguyễn Văn Phúc, sinh ngày 26/6/2007 (15 tuổi 10 tháng 02 ngày) ở xã Lưu Kiếm, huyện Thuỷ Nguyên đi tìm đánh Lý Đức Thái, cả nhóm đồng ý. Sau đó Đông, Huy, Tuấn Anh, D về nhà Đông lấy 03 thanh giáo chọc (do Đông chuẩn bị trước đó) mang theo để đi đánh nhau. Sau khi lấy được hung khí, cả nhóm đi 07 xe mô tô dàn hàng ngang, phóng nhanh trên trục đường liên xã từ thị trấn Minh Đức – Minh Tân – Lưu Kiếm, trong đó: Nguyễn Quang Huy điều khiển xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) chở Tuấn Anh ngồi sau cầm 01 thanh giáo chọc; Quân điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22T1-04813 chở Đông cầm 01 thanh giáo chọc; Quyền điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15G1 – 900.98 chở Đức; A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15G1-899.72 chở Duy; Tiến điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15AF-145.55 chở Mạnh; Phúc (xã Lưu Kiếm) điều khiển xe mô tô chở Phúc (thị trấn Minh Đức) và E cầm theo 01 thanh giáo chọc; Thiện điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15G1-309.99 chở F. Khi cả nhóm đi đến khu vực cổng Trường THPT Bạch Đằng thuộc xã Lưu Kiếm, huyện Thuỷ Nguyên thì thấy Lý Đức Thái cùng bạn là Vũ Đức Trọng, sinh ngày 05/11/2008 ở thôn 4, xã Gia Minh đang ngồi uống nước. Thấy nhóm A đi đến đông người lại cầm theo hung khí nên Thái đã điều khiển xe mô tô chở Trọng bỏ chạy, nhóm A đuổi theo. Khi đi được khoảng 300m thì Thái điều khiển xe mô tô chở Trọng chạy vào trong quán tạp hoá “Nấm Bông” của anh Đào Văn Hùng, sinh năm 1996 ở thôn 1B, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên làm chủ để trốn. Lúc này nhóm A đuổi đến, dừng xe trên đường trước cửa quán “Nấm Bông” hò hét, chửi bởi. Sau đó, Tuấn Anh, Đông, E mỗi người cầm 01 thanh giáo chọc cùng Duy, Thắng, Quyền, Tiến, Phúc (Minh Đức) xuống xe và chạy đến trước cửa quán; Duy, Tuấn Anh, Thắng, Tiến vào trong quán lôi, kéo Thái ra ngoài sân trước cửa quán. Tại đây Duy, Tuấn Anh, Thắng, Tiến, Quyền, Phúc (Minh Đức) dùng tay, chân đấm đá nhiều nhát và dùng giáo chọc đập vào người anh Thái. Bị nhóm A đánh, Thái chạy vào trong quán tạp hóa thì nhóm A không đuổi đánh nữa rồi cả nhóm đi về khu di tích Bạch Đằng Giang. Tại đây, nhóm A gặp Phạm Ngọc Huy, sinh năm 2004, ở thôn 4 xã Gia Đức, Thủy Nguyên điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức Tùng, sinh ngày 08/10/2007 ở thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên cầm theo một ống tuýp kim loại (dài 2.7m, đường kính 02cm) đi đến. Nguyên kể lại cho Ngọc Huy và Tùng biết việc vừa đi đánh Thái tại xã Lưu Kiếm xong nên cả nhóm giải tán đi về.

Đến ngày 29/4/2023, anh Lý Đức Thái đã làm đơn trình báo Cơ quan Công an về việc bị nhóm của Đàm Trì A đuổi đánh như trên. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ: 01 đĩa CD lưu giữ hình ảnh, diễn biến nội dung vụ việc đánh nhau; 01 thanh giáo chọc dài 3.18m, đường kính 02cm, thân giáo hình trụ tròn, mũi giáo có gắn dao bầu đầu nhọn, lưỡi sắc (tại bãi đất trống thuộc khu tái định cư thị trấn Minh Đức); 01 thanh kim loại dài 03m, đường kính 2cm, một đầu gắn 01 dao mũi nhọn (do Tuấn Anh sử dụng); 01 thanh kim loại hình trụ tròn dài khoảng 2.7m, đường kính 02cm (do Tùng cầm đi nhưng chưa sử dụng đánh nhau); 04 chiếc xe mô tô (gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS 15AF-145.55; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 22T1 - 048.13; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 15G1-899.72; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS 15GI - 309.99).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Nguyễn Văn Đông và Trịnh Đức E: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.

Tại Bản kết luận giám định về thương tích số 358/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 05/6/2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Toàn thân Lý Đức Thái không có dấu vết thương tích, không xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể và không có căn cứ đánh giá đặc điểm vật gây thương tích.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02-01-2024 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Đàm Trì A; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự,

Tuyên bố bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt:

Đàm Trì A 36 (ba mươi sáu) tháng tù

Đỗ Đăng B 24 (hai mươi bốn) tháng tù

Vũ Khánh C 24 (hai mươi bốn) tháng tù

Trịnh Đức E 15 (mười lăm) tháng tù

Nguyễn Việt D 15 (mười lăm) tháng tù

Lã Duy F 15 (mười lăm) tháng tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 15/01/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàm Trì A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 15/01/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Đăng B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 10/01/2024 bị cáo Vũ Khánh C có đơn kháng cáo; ngày 17/01/2024, người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Khánh C là ông Vũ Văn Khánh và bà Vũ Thị Nhương có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngày 15/01/2024, bị cáo Nguyễn Việt D có đơn kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Ngày 15/01/2024, bị cáo Lã Duy F và người đại diện hợp pháp của bị cáo Lã Duy F có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 09/01/2024, bị cáo Trịnh Đức E có đơn kháng cáo đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Lã Duy F; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Người bào chữa cho bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D:

Đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” đối với bị cáo Đàm Trì A vì tình tiết này chỉ áp dụng đối với bị cáo là người đã thành niên (đủ 18 tuổi trở lên) theo khoản 3 Điều 416 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bố bị cáo B bị bệnh nặng phải điều trị tại bệnh viện nên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo A và bị cáo B, quyết định mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với hai bị cáo.

Bị cáo E, Đức chỉ có hành vi hò hét, không tham gia đánh Thái. Hai bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, hiện đang chuẩn bị thi tốt nghiệp cấp ba nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo E và Đức được hưởng án treo.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Khánh C là ông Nguyễn Văn Thuộm và ông Đinh Phú Mạnh: Xuất phát từ mâu thuẫn của Đàm Trì A và Lý Đức Thái từ trước nên Nguyên rủ các bị cáo khác tham gia đánh Thái. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo C chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế nên đã phạm tội. Tại phiên toà, bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, bản án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo quá cao. Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được thêm tình tiết giảm nhẹ mới là ông nội, ngoại và bác ruột của bị cáo là thương binh. Hiện nay bị cáo đang học tại Trường THPT Nam Triệu, hành vi phạm tội của bị cáo là không đáng kể, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự và áp dụng triệt để nguyên tắc đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để đưa ra mức án khoan hồng, cho bị cáo được hưởng án treo hoặc được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo trở về với gia đình và trở thành một công dân tốt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vũ Khánh C là bà Nguyễn Thị Hồng Thư: Bị cáo C không phải chủ mưu, bị rủ rê đi đánh nhau. Vai trò của bị cáo C trong vụ án là thấp, không chuẩn bị hung khí, chỉ dung chân tay đánh Thái. Bị cáo C có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy mức hình phạt 24 tháng của Toà án cấp sơ thẩm là quá nặng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Lã Duy F: Mức hình phạt đối với bị cáo F là nặng, không phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Khi phạm tội, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, dễ bị lôi kéo, rủ rê tham gia đánh nhau. Tại cấp sơ thẩm phân tích vai trò của bị cáo F là tích cực, ngang với bị cáo khác là không phù hợp bởi lẽ bị cáo F không mang theo hung khí, khi đến quán Nấm Bông, bị cáo đứng phía ngoài đường, không tham gia đánh Thái. Bố bị cáo F đã có đơn xin xác nhận của nhà trường và địa phương, hiện bị cáo F đang học lớp 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp, bị cáo F có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, bị cáo F có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo không tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, vô cùng ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, vô cùng ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo thừa nhận có hành vi điều khiển xe mô tô dàn hàng ngang, phóng nhanh, cầm theo hung khí đi trên tuyến đường liên xã Minh Đức – Minh Tân – Lưu Kiếm, khi đến một cửa hàng thuộc thôn 1B, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng đã hò hét, chửi bới, đánh anh Lý Đức Thái. Hành vi của các bị cáo mặc dù không để lại thương tích cho anh Thái nhưng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân. Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Đàm Trì A là người rủ các bị cáo khác đi đánh nhau. Việc áp dụng tình tiết tăng nặng “ Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” không phụ thuộc vào độ tuổi của người xúi giục. Do đó, không có căn cứ chấp nhận quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Đàm Trì A đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng nêu trên đối với bị cáo.

Xét kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp của các bị cáo: Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo C cung cấp tài liệu thể hiện ông nội, ông ngoại của bị cáo C là thương binh. Tài liệu này đã được cung cấp tại cấp sơ thẩm và Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo, đo đó Toà án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết. Gia đình bị cáo E cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo E có ông bà nội có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương gia đình bị cáo B cung cấp tài liệu thể hiện bố đẻ của bị cáo B bị bệnh phải điều trị ở bệnh viện, gia đình bị cáo bị cáo F cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo F đang học lớp 12 chuẩn bị thi tốt nghiệp, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật phù hợp với vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo C, người đại diện hợp pháp của các bị cáo A, Thắng, Duy và quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt; không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo D, F, E, người đại diện hợp pháp của bị cáo F và quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo đề nghị được hưởng án treo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Lã Duy F; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đối với bị cáo Đàm Trì A: Tại thời điểm xét xử phúc thẩm, Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với mức hình phạt là 30 tháng tù. Bản án này chưa có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử không tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Đàm Trì A.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàm Trì A và Đỗ Đăng B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận. Do các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F chưa đủ 18 tuổi nên người đại diện hợp pháp của các bị cáo sẽ nộp thay.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F và người đại diện hợp pháp của các bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Lã Duy F; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 đối với bị cáo Đàm Trì A; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đàm Trì A, Đỗ Đăng B, Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Đàm Trì A 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 04 tháng 8 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Đỗ Đăng B 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 04 tháng 8 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Vũ Khánh C 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 04 tháng 8 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Trịnh Đức E 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Lã Duy F 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàm Trì A và Đỗ Đăng B phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F có trách nhiệm nộp thay các bị cáo Vũ Khánh C, Trịnh Đức E, Nguyễn Việt D, Lã Duy F số tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ