- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Hà Thị T và anh Lê Hồng L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/6/2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Xuân Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Quách Thị Lê.
Ông Phạm Đức Hoàn.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trọng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1996. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Anh Lê Hồng L, sinh năm 1990.(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn TS, xã KT, huyện NL, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hà Thị T trình bày: Chị và anh Lê Hồng L kết hôn tự nguyện và tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương từ tháng 6/2012, nhưng mãi đến ngày 10/3/2015 mới đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã KT, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Hiện nay bản chính giấy chứng nhận kết hôn đã bị thất lạc, nên chị chỉ cung cấp được bản sao trích lục kết hôn cho Tòa án. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 04 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị và anh Lê Hồng L có một con chung là Lê Hoài T, sinh ngày 08/11/2012. Hiện nay cháu T đang ở với anh L và bà nội. Vợ chồng ly hôn, chị đề nghị giao cháu T cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi con chung thành niên.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại đơn đề nghị ngày 14/5/2024 bị đơn là anh Lê Hồng L trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai, nên anh đồng ý ly hôn với chị T theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Lê Hoài T, sinh ngày 08/11/2012, anh đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu T cho anh chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ cho đến khi con thành niên.
Về tài sản: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị T, anh L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Lê Hồng L. Giao cháu Lê Hoài T cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000đ/tháng (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 cho đến khi con chung thành niên. Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Hà Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Lê Hồng L, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh L không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh L theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
Anh L đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng anh L không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.
Chị Hà Thị T và anh Lê Hồng L đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị T, anh L.
[2] Về hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Lê Hồng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Chị T và anh L đều có nguyện vọng muốn được ly hôn. Điều đó chứng tỏ chị T, anh L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh L.
[3] Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung là Lê Hoài T, sinh ngày 08/11/2012. Chị T và anh L đều có nguyện vọng giao con chung cho anh L chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện tại các cháu T đang do anh L chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu T có nguyện vọng muốn được ở với bố. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu, cũng như theo nguyện vọng của cháu T, nên chấp nhận yêu cầu của chị T và anh L, giao con chung cho anh L chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh L đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con chung theo đề nghị của chị T. Buộc chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.000.000đ/tháng (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 cho đến khi con chung thành niên.
[4] Về tài sản: Chị T, anh L không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 107; 110 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273; 482 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Lê Hồng L.
2. Về con chung: Giao cháu Lê Hoài T, sinh ngày 08/11/2012 cho anh Lê Hồng L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Hà Thị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh L mỗi tháng là 1.000.000đ/tháng (Một triệu đồng). Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 7/2024 cho đến khi con thành niên.
Chị Hà Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở ngăn cấm.
Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
3. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, tổng cộng là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền chị T đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện NL, theo biên lai số 0004307 ngày 23/4/2024. Chị Hà Thị T còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Chị T, anh L có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện NL; - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - UBND xã KT; - Chi cục THADS huyện NL; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Vinh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |