- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vương V- Đỗ H- Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị Thúy V được ly hôn với ông Đỗ Đức H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24 - 6 - 2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thủy.
2. Bà Nguyễn Thị Di.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Bà Vương Thị Thúy V, sinh năm: 1976. (có đơn xin vắng mặt)
HKTT: Tổ 23, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ liên hệ: Tổ 12, ấp Hải Sơn, xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
2- Bị đơn: Ông Đỗ Đức H, sinh năm: 1973. (vắng mặt).
HKTT: Tổ 23, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Địa chỉ liên hệ: Tổ A, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Vương Thị Thúy V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị Thúy V và ông Đỗ Đức H chung sống với nhau vào năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L. Bà V và ông H tự nguyện chung sống không bị ai ép buộc, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ đồng cảm với nhau trong tình cảm cũng như kinh tế, đời sống chung không còn hạnh phúc. Nay bà V không còn tình cảm với ông H nữa nên yêu cầu ly hôn.
- Về con chung: Bà V xác định, bà V bà ông H có 02 (hai) người con chung là các cháu Đỗ Phi H1, sinh ngày: 29/01/1997 và Đỗ Phi H2, sinh ngày: 16/7/2002. Hiện nay cháu H1 và cháu H2 đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường, bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Đỗ Đức H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, ông H đã nhận các văn bản tố tụng, nhưng không ký nhận. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu về quá trình giải quyết vụ án: Về tố tụng: Xác định việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Thẩm phán, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX và nguyên đơn tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng không chấp hành. Về nội dung vụ án đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn; Về con chung: Bà V và ông H có 02 (hai) người con chung là các cháu Đỗ Phi H1, sinh ngày: 29/01/1997 và Đỗ Phi H2, sinh ngày: 16/7/2002, hiện nay 02 cháu đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường nên không xét đến; Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Vương Thị Thúy V yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Đức H, ông H hiện đang sinh sống tại huyện L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền theo quy định tại khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt ông H theo Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bà V có đơn xin xét xử vắng mặt đúng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị Thúy V và ông Đỗ Đức H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1995, có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân giữa bà V và ông H là hợp pháp. Theo bà V, vợ chồng chung hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có sự chia sẻ đồng cảm với nhau trong tình cảm cũng như kinh tế, đời sống chung không còn hạnh phúc, hiện nay bà V không còn tình cảm với ông H nữa nên yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng nhau, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, trong quá trình thụ lý vụ án Tòa án đã mời bà V bà ông H làm việc để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông H không có mặt, điều này cho thấy mâu thuẫn giữa bà V và ông H là có thật và trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương tôn trọng nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có cơ sở cho bà Vương Thị Thúy V ly hôn với ông Đỗ Đức H.
Về con chung: Bà V xác định, bà V bà ông H có 02 (hai) người con chung là các cháu Đỗ Phi H1, sinh ngày: 29/01/1997 và Đỗ Phi H2, sinh ngày: 16/7/2002. Hiện nay cháu H1 và cháu H2 đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường, bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xét đến.
Tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà V phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án Bà. Ông H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 51, 56 và 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị Thúy V được ly hôn với ông Đỗ Đức H.
2. Về con chung: Bà V và ông H có 02 (hai) người con chung là: Đỗ Phi H1, sinh ngày: 29/01/1997 và Đỗ Phi H2, sinh ngày: 16/7/2002. Hiện nay cháu H1 và cháu H2 đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường nên không xét đến.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.
4. Về án phí: Buộc bà Vương Thị Thúy V phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp theo biên lai thu số 0004372 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, bà V đã nộp đủ. Ông Đỗ Đức H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/6/2024), các đương sự được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn này được tính từ ngày nhận bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND H.Long Điền; - UBND xã Phước Tỉnh, (số 011/1995, ngày 16/11/1995); - TAND tỉnh BRVT; - Chi cục THADS H.Long Điền; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Dung |