vanban.org

Bản án 38/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Đặng Thị Hải P - Đỗ Thành L"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2024
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Phước Minh Phong

Các hội thẩm nhân dân:Bà Khuất Thị Minh Hiền

Ông Phạm Ngọc Diện

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Cương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 18/3/2014 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Hải P, sinh năm: 1993; địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Đỗ Thành L, sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn bà Đặng Thị Hải P:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2016, bà và ông Đỗ Thành L chung sống với nhau, xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện; có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 20/4/2018. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, có xảy ra mâu thuẫn nhưng vẫn giải quyết được; đến năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống; vợ chồng cũng đã nhiều lần nói chuyện tìm cách để hiểu nhau hơn, giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm nhưng không được, nên cả hai đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đỗ Thành L.

Về con chung: Bà xác định vợ chồng có một con chung là Đỗ Đặng Như Q, sinh ngày 09/7/2018. Khi ly hôn, bà đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bà Phòng k còn yêu cầu gì khác.

Theo lời trình bày của bị đơn ông Đỗ Thành L:

Ông và bà Đặng Thị Hải P xây dựng gia đình với nhau năm 2016, trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng năm 2018. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không tin tưởng nhau trong cuộc sống và bà P có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, ông cũng đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không được, nên cả hai đã sống ly thân từ 2023. Do mâu thuẫn trầm trọng kéo dài và ông không còn tình cảm với bà P nên ông đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông xác định vợ chồng có một con chung là Đỗ Đặng Như Q, sinh ngày 09/7/2018 đang sống với ông. Khi ly hôn, ông đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Đặng Thị Hải P. Giao con chung Đỗ Đặng Như Q, sinh ngày 09/7/2018 cho bà Đặng Thị Hải P có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đỗ Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Đặng Thị Hải P, bị đơn ông Đỗ Thành L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Hải P và ông Đỗ Thành L xây dựng gia đình với nhau vào năm 2016, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 20/4/2018. Việc đăng ký kết hôn không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân của bà P và ông L là hợp pháp. Tuy nhiên, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà P khởi kiện ly hôn.

Xét thấy, vợ chồng bà P, ông L phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Sau khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã nhiều lần tìm cách để cải thiện tình cảm nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 và không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L cũng xác định không còn tình cảm với bà P nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà P.

Do quan hệ hôn nhân giữa bà P với ông L đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P, giải quyết cho bà P và ông L được ly hôn là phù hợp.

Về con chung: Bà Đặng Thị Hải P và ông Đỗ Thành L có một con chung là Đỗ Đặng Như Q, sinh ngày 09/7/2018.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; ông L cũng đề nghị được nuôi con chung, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của các đương sự đều là chính đáng; tuy nhiên việc xem xét giao con cho cha hoặc mẹ có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cần phải đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ, cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con của các bên.

Xét thấy, mặc dù từ khi vợ chồng sống ly thân (năm 2023), cháu Đỗ Đặng Như Q ở với ông L. Tuy nhiên, qua xác minh tại địa phương thì được biết ông L là người từng nghiện ma túy, hiện nay không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, mọi chi phí sinh hoạt đều nhờ người thân; việc đưa đón cháu Q đi học thường xuyên phải nhờ người nhà và hàng xóm. Ông L cho rằng hiện nay làm nghề lái xe máy múc, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng, nhưng ông không có chứng cứ chứng minh; trong khi đó, theo “Đơn xin xác nhận việc làm và mức lương” ngày 17/5/2024 của bà P được Tổ dân phố Y và Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L xác nhận, thể hiện bà P có công việc làm Nail ổn định, ngoài ra còn có mặt bằng đang cho thuê, thu nhập hàng tháng khoảng 15.000.000 đồng; hơn nữa, hiện nay bà P đang sống cùng với cha mẹ nên có sự hỗ trợ của ông bà ngoại trong việc chăm sóc cháu Q; mặt khác, cháu Q là nữ nên cần giao cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển tâm sinh lý bình thường của cháu là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Việc cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đặng Thị Hải P và ông Đỗ Thành L xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để xem xét.

Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Hải P phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn ly hôn của bà Đặng Thị Hải P, xử cho bà Đặng Thị Hải P và ông Đỗ Thành L được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung Đỗ Đặng Như Q, sinh ngày 09/7/2018 cho bà Đặng Thị Hải P có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Đỗ Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Buộc bà Đặng Thị Hải P phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp theo biên lai thu số 0004544 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Bà Đặng Thị Hải P đã nộp đủ án phí.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ