- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Đẹp - Phan Văn Cương"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02/4/2024 “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG - TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Công Út
2. Ông Trần Tấn Kiệt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ý là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên lương, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 123/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1990, có mặt.
Địa chỉ: Tổ 06, ấp C, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Phan Văn C, sinh năm 1988, vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ 04, ấp H, xã D, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án nguyên đơn bà Phan Thị Đ trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Phan Văn C chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Dương Hòa vào ngày 30/9/2015. Nguyên nhân ly hôn do ông C ngoại tình, đánh đập bà, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Nay tình cảm vợ chồng rạn nứt trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa và xin được ly hôn với ông C.
- Về con chung: Quá trình sống chung với nhau có 02 người con chung tên Phan Gia H, sinh ngày 20/6/2016 và Phan Bảo Ng, sinh ngày 07/4/2018. Nay bà yêu cầu nuôi hai con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng 3.000.000đ cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tại phiên tòa bà Đ thay đổi yêu cầu nuôi con, bà Đ yêu cầu nuôi dưỡng con tên Ngọc và bà Đ đồng ý giao con tên Huy cho ông C nuôi dưỡng, đồng thời bà Đ không yêu cầu ông C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Văn C vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã thực hiện các thủ tục niêm yết công khai các văn bản tố tụng. Tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa hôm nay ông C vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa là đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Đ và buộc ông Phan Văn C ly hôn với bà Phan Thị Đ; Giao con chung tên Phan Gia H, sinh ngày 20/6/2016 cho ông C nuôi dưỡng đến khi trưởng thành và giao con tên Phan Bảo Ng, sinh ngày 07/4/2018 cho bà Đ tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; Về cấp dưỡng nuôi con chung: ông C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Đ không yêu cầu; Về tài sản chung, nợ chung: không có yêu cầu xem xét nên miễn xét. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng đến nay ông Phan Văn C vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Phan Văn C có nơi cư trú tại: Tổ 04, ấp H, xã D, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Đây là vụ kiện “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về áp dụng pháp luật: Bà Phan Thị Đ và ông Phan Văn C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Ngày 30/9/2015 bà Đ ông C đã được Ủy ban nhân dân xã Dương Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51, quyển số 01/2015. Do đó, hôn nhân của bà Đ và ông C đã tuân thủ đúng quy định pháp luật về Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Phan Thị Đ và ông Phan Văn C là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng ông bà không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông C ngoại tình, đánh đập bà Đ và vợ chồng đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Bà Đ xác nhận hôn nhân không còn hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài và đến nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, chứng tỏ hôn nhân của bà Đ và ông C không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của bà Đ và ông C, tại biên bản xác minh và lời khai của chị ruột của ông C cho biết vợ chồng ông C bà Đ có mâu thuẫn với nhau, ông C cũng muốn ly hôn nhưng do hiện nay ông C đi làm ăn xa, công việc bận rộn không thể về làm việc theo giấy mời của Tòa án. Tại phiên tòa bà Đ cương quyết ly hôn, nếu tiếp tục cuộc sống hôn nhân thì vợ chồng cũng không hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà Đ xin được ly hôn với ông C là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Giữa bà Đ ông C chung sống với nhau có 02 người con chung tên Phan Gia H, sinh ngày 20/6/2016 và Phan Bảo Ng, sinh ngày 07/4/2018. Xét thấy bà Đ xin được nuôi con tên Phan Bảo Ng là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì cháu Ng là con gái, khi cháu Ng đến tuổi dậy thì cần được mẹ chăm sóc, dạy bảo của mẹ, do đó nếu giao cháu Ng cho ông C nuôi dưỡng thì sẽ không hợp lý. Tại phiên tòa bà Đ cho biết hiện nay cháu H đang sống cùng với ông C, ý kiến của cháu H mong muốn được sống cùng với cha và bà Đ đồng ý giao con tên H cho ông C nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của này bà Đ là giao cháu Ngọc cho bà Đ, giao cháu Huy cho ông C và ông C bà Đ phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, bà Đ không yêu cầu ông C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu nên miễn xét
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu xem xét nên miễn xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ, bà Đ yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Đ.
Về hôn nhân: Buộc ông Phan Văn C phải ly hôn với bà Phan Thị Đ.
Về con chung: Giao con tên Phan Gia H, sinh ngày 20/6/2016 cho ông Phan Văn C nuôi dưỡng; Giao con tên Phan Bảo Ng, sinh ngày 07/4/2018 cho bà Đ nuôi dưỡng; Ông C bà Đ phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
Không ai được ngăn cản quyềm thăm non chăm sóc con chung.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu nên miễn xét
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu nên miễn xét.
2/ Về án phí: Áp dụng Điều 144, Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí HNGĐ-ST là 300.000đ, bà Đ phải nộp và được khấu trừ vào án phí tạm nộp theo biên lai thu số 0006935 ngày 05/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương (đã thực hiện xong).
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/4/2024). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Kiên Lương; - Chi cục THADS huyện Kiên Lương; - Đương sự; - Lưu tập án, Hồ sơ; - Lưu VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Cao Thị Mai |