- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T đối với bị đơn ông Duong H:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/01/2024. V/v Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
Ông Phạm Văn Hễ
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 31/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân dân Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 327/2023/TLST-HNGĐ ngày 30/11/2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số 88 đường PT, khu phố PT, phường LB, thành phố TĐ, Thành phố H.
- Bị đơn: Ông Duong H, sinh năm 1964.
Địa chỉ: 305 – 101 Kendleton DR Etobicoke, On, M9V1V1, Canada.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai bà Nguyễn Thùy T trình bày:
Bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H kết hôn năm 2006 theo giấy chứng nhận kết hôn số 2793 ngày 29/8/2006 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp.
Sau khi kết hôn, ông Duong H trở về nước Canada sinh sống và làm việc, bà Nguyễn Thùy T vẫn sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Do khoảng cách địa lý, vợ chồng không sống chung nên xảy ra mâu thuẫn bất đồng về quan điểm sống, trong các mối quan hệ giao tiếp, từ đó vợ chồng ít liên lạc nhau cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được, bà Nguyễn Thùy T yêu cầu ly hôn ông Duong H.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản trình bày ý kiến đã được hợp pháp hóa lãnh sự ngày 27/12/2023, ông Duong H trình bày:
Ông Duong H đồng ý thống nhất trình bày của bà Nguyễn Thùy T về việc đăng ký kết hôn, mâu thuẫn giữa vợ chồng, con chung, tài sản chung, nợ chung.
Bà Nguyễn Thùy T khởi kiện yêu cầu ly hôn, ông Duong H có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Duong H đồng ý ly hôn bà Nguyễn Thùy T.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố H giải quyết, xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Duong H, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Duong H đang cư trú tại nước Canada, nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T cư trú tại thành phố TĐ, Thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định tại Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét sự vắng mặt của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T, bị đơn ông Duong H tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T và bị đơn ông Duong H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T đối với bị đơn ông Duong H, xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 2793 ngày 29/8/2006 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H; có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bà Nguyễn Thùy T yêu cầu ly hôn ông Duong H với lý do sau khi kết hôn, ông Duong H trở về nước Canada sinh sống và làm việc, bà Nguyễn Thùy T vẫn sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Do khoảng cách địa lý, vợ chồng không sống chung nên xảy ra mâu thuẫn bất đồng về quan điểm sống, trong các mối quan hệ giao tiếp, từ đó vợ chồng ít liên lạc nhau cho đến nay. Đối với ông Duong H cũng thừa nhận trình bày của bà Nguyễn Thùy T là đúng và đồng ý ly hôn bà Nguyễn Thùy T. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy T ly hôn ông Duong H theo quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thùy T phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 91, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 121, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T đối với bị đơn ông Duong H:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thùy T ly hôn ông Duong H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 2793 ngày 29/8/2006 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp cho bà Nguyễn Thùy T và ông Duong H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thùy T phải chịu là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001018 ngày 29/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H.
5. Về quyền kháng cáo Bản án:
Bà Nguyễn Thùy T vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Ông Duong H cư trú ở nước ngoài, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.H; - VKSND cấp cao tại TP.H; - VKSND TP.H; - Cục THADS TP.H; - UBND TP.H (Sở Tư pháp); - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Trịnh Minh Đức |