- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn giữa chị Đậu Thị C và anh Trần Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đậu Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HNGĐ - ST Ngày: 14-8-2024 V/v:“Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Thu và bà Đỗ Thị Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 148/2024/TLST- HNGĐ, ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đậu Thị C, sinh năm 1988; có mặt Địa chỉ: Xóm 7, xã DT, huyện DC, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1985; có mặt. Địa chỉ: Khối 6 thị trấn CG, huyện QL, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/5/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Đậu Thị C trình bày:
Chị và anh Trần Ngọc T trước đây là vợ chồng, nhưng do quá trình chung sống không hợp nhau nên đã được Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An giải quyết cho ly hôn theo Quyết định số 143/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07/06/2019. Đồng thời giao 02 con chung của anh chị là cháu Trần Linh Đ, sinh ngày 09/4/2012 và cháu Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013 cho chị Đậu Thị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Trần Ngọc T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với 02 con chung là 5.000.000 đồng/tháng. Chị C đã thực hiện theo đúng quy định, nuôi dưỡng con tốt, các con khỏe mạnh, được ăn học đầy đủ và đảm bảo quyền thăm gặp con của anh T. Đến tháng 01 năm 2022, trong quá trình làm ăn do không hiểu biết pháp luật, chị bị người khác sai khiến nên chị bị bắt giữ và bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò là người giúp sức. Trong thời gian chị chấp hành án, anh T có làm đơn khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử và giao 02 con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Ngày 30/8/2023, chị chấp hành án xong, chị có đến để thăm gặp con nhưng anh T và vợ mới anh T không cho chị gặp con, chị phải đến trường của con học mới được gặp con. Qua nhiều lần gặp con tại trường, chị được biết, các con ở với bà nội và vợ chồng anh T không được tốt do thường xuyên chửi bới, xúc phạm các con vô cớ, thậm chí có đánh đập các con. Khi gặp mẹ, các con thường khóc rồi kể chuyện tình hình gia đình làm ảnh hưởng đến cuộc sống và sự phát triển tâm lý của con. Hiện nay, chị ký hợp đồng dài hạn làm việc tại công ty Cp gạch, ngói và xây lắp Diễn Châu và làm thêm nhiều việc khác, thu nhập bình quân hơn 10.950.000đồng/tháng, đồng thời chị cũng có chỗ ở ổn định tại xóm 7, xã Dt, huyện DC nên chị đảm bảo được về kinh tế và chỗ ở, cũng như mặt tinh thần để nuôi con.
Tại đơn khởi kiện, chị yêu cầu tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Linh Đ và Trần Ngọc Đ. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa chị C có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con chung là Trần Linh Đ, giao cháu Trần Ngọc Đ cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Ngọc T trình bày: Anh thống nhất như chị C trình bày về con chung, thời gian anh chị ly hôn và quá trình thay đổi người trực tiếp nuôi con. Từ khi Tòa án giao con cho chị C nuôi dưỡng, anh vẫn đảm bảo việc cấp dưỡng nuôi con đầy đủ và được gặp con bình thường. Nhưng chị C là lao động tự do không có công việc ổn định nên để con ở nhà cho ông bà ngoại nuôi dưỡng, chị C cũng không có thời gian và điều kiện chăm sóc con nên cháu Đ thì học kém, cháu Đ có biểu hiện bị tăng động. Sau khi các con về ở với anh thì các con được ăn học đầy đủ, ngoài học chính ở trường thì anh còn cho con học thêm và học các môn văn hóa, thể thao, nên cháu Đ được học sinh giỏi, cháu Đạt được thành tích giải nhất cuộc thi bơi lội của huyện Quỳnh Lưu. Hiện nay anh có cửa hàng điện dân dụng lớn tại Cổng chợ G nên thu nhập mỗi tháng của anh là 100.000.000 đồng, anh cũng có nhà cửa ổn định nên đủ điều kiện nuôi con. Nay chị C yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì anh không nhất trí vì chị C không đủ điều kiện để nuôi con, chị C không có công việc ổn định, ham chơi đua đòi và đã có án tích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; nguyên đơn, bị đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đậu Thị C, xử giao con Trần Linh Đ cho chị Đậu Thị C trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con, do chị C không yêu cầu nên không xem xét; anh Trần Văn T phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Chị Đậu Thị C có đơn đề nghị Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn với anh Trần Ngọc T, đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Anh T có hộ khẩu thường trú tại khối 4, thị trấn CG, huyện QL, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Về nội dung vụ án: Chị Đậu Thị C và anh Trần Ngọc T có 02 con chung là Trần Linh Đ, sinh ngày 09/4/2012 và cháu Trần Ngọc Đ, sinh ngày 20/8/2013; năm 2019 anh Trần Ngọc T và chị Đậu Thị C ly hôn tại Tòa án, Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của đương sự số 143/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã giao con chung là Trần Linh Đ và Trần Ngọc Đ cho chị Đậu Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 5.000.000đ. Đến tháng 03/2022, chị C bị tạm giam tại Trại tạm giam công án tỉnh Nghệ An nên anh T nộp đơn tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An yêu cầu thay đổi người nuôi con; tại Bản án số 09/2022/HNGĐ-ST, ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã giao con chung là Trần Linh Đ và Trần Ngọc Đ cho anh Trần Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cả chị C và anh T đều có khả năng và điều kiện kinh tế, chỗ ở ổn định để nuôi dạy con; cả hai người đều muốn được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai con chung. Do đó việc giao con cho ai đều phải xem xét đến hoàn cảnh thực tế của các bên, nguyện vọng của con trên 07 tuổi và phải xem xét đến lợi ích của con nhằm đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cho thấy hiện nay anh T đã lấy vợ mới và sinh 02 con vừa phải nuôi mẹ già, vừa phải nuôi con của anh T với chị C nên việc chăm sóc con của anh T ít nhiều không trọn vẹn được như chị C.
Tại Tòa án, cháu Đ khóc và trình bày nguyện vọng xin được ở với mẹ vì sống chung gia đình của bố, bà nội và dì không thoải mái và thường xuyên bị mắng nhiếc, xúc phạm; do đó làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu. Vì vậy, anh T có thể đảm bảo được về điều kiện vật chất nhưng không đảm bảo được điều kiện tinh thần cho cháu. Tại phiên hòa giải và phiên tòa chị C cũng mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Xét thấy cháu Đ là con gái và đã trên 07 tuổi; đã đến tuổi phát triển về tâm sinh lý, khi được gần mẹ cháu sẽ có đủ điều kiện đảm bảo tốt hơn về mọi mặt.
Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đậu Thị C về yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn tại Bản án số 09/2022/HNGĐ-ST, ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; cần giao con chung Trần Linh Đ cho chị Đậu Thị C được quyền trực tiếp nuôi dưỡng để Ca sẻ bớt gáng nặng gia đình cho anh T.
Con Trần Ngọc Đ thì thực hiện theo Bản án số 09/2022/HNGĐ-ST, ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị C không yêu cầu nên tòa án miễn xét.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đậu Thị C.
2.1. Giao con chung Trần Linh Đ, sinh ngày 09/4/2012 cho chị Đậu Thị C trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Đậu Thị C và anh Trần Ngọc T vì không ai yêu cầu.
Chị Đậu Thị C, anh Trần Ngọc T được quyền thăm nom con chung; không ai được ngăn cấm, cản trở.
Vì quyền lợi của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Anh Trần Ngọc T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho chị Đậu Thị C số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị đã nộp tại C cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số 0005738 ngày 30/5/2024.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - C cục THADS huyện Quỳnh Lưu; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Đương sự; - Lưu HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Hữu Thỏa Lê Thị Thanh Thủy tßa ¸n nh©n d©n HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN Vào hồi…..giờ…..phút, ngày 24 tháng 5 năm 2024 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Hà. Các hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thúy Hằng và bà Vũ Thị Thịnh n¨m 2024 vÒ viÖc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” gi÷a: - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Lan, sinh năm 1981. Địa chỉ: Xóm 12, xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nhật, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Xóm 12, xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. luËn t¹i phiªn toµ, các quy định của pháp luật: 1. Về loại việc: Dân sự "Tranh chấp hôn nhân và gia đình". Biểu quyết: Nhất trí 3/3. đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều ban thường vụ Quốc hội. Biểu quyết: Nhất trí: 3/3. 3. Cách giải quyết các vấn đề yêu cầu: Xö: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Lan. Nhật. - Về con chung: Không xem xét giải quyết. cầu Tòa án giải quyết. Tòa án sẽ giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu bằng một vụ án dân sự khác. Biểu quyết: Nhất trí 3/3. 4. Các vấn đề khác: thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số 0005580 ngày 20/5/2024. Biểu quyết: Nhất trí 3/3 nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thịnh Hồ Thị Thúy Hằng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Ngọc Hà Trần Ngọc Hà céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam §éc lËp - Tù do - H¹nh phóc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tiến hành nghị án vụ án thô lý sè 138/2024/ TLST - HNGĐ, ngµy 20 th¸ng 5 C¨n cø vµo tµi liÖu và chứng cứ ®· ® îc xem xét t¹i phiªn toµ, kÕt qu¶ tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: 2. Điều luật áp dụng: Căn cứ vào Điều 51, các Điều 56 Luật hôn nhân gia 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Lan được ly hôn anh Nguyễn Văn - Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị Lan và anh Nguyễn Văn Nhật không yêu Về án phí: Chị Trần Thị Lan phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại C cục Nghị án kết thúc vào hồi....... giờ....... phút, ngày 24 tháng 7 năm 2024. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng Trần Ngọc Hà |