- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim A:
- Căn cứ chính? Điều 3 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 158 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/HC-ST Ngày: 29 - 3 - 2024 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Chín.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Tám;
2. Bà Lê Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Anh, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Lai - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2023/TLST-HC ngày 30/10/2023, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HC ngày 05 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu phố A, Phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn T – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân thành phố P;
2. Chi nhánh Văn phòng Đ1;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn T – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1.
3/ Ông Đinh Hồ H, sinh năm 1975;
4/ Bà Bùi Thị Thanh T1, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà T1: Bà Lê Thị Kim A, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu phố A, Phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Đương sự có mặt: Bà Lê Thị Kim A.
Đương sự có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Ủy ban nhân dân thành phố P, Chi nhánh Văn phòng Đ1, ông Nguyễn Tấn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/9/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người khởi kiện là bà Lê Thị Kim A trình bày:
Bà Lê Thị Kim A nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 09, có diện tích 742,9m2, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667122 do UBND thành phố P cấp ngày 10/9/2018, cập nhật biến động ngày 26/9/2018 và ngày 20/8/2019 thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C công chứng vào ngày 05/9/2023; số công chứng 07641 quyển số 08/2023TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngày 05/9/2023, bà Kim A nộp hồ sơ đăng ký biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang tên bà Kim A theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng, chứng thực. Đến ngày 11/9/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐ, với nội dung hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất cho bà Kim A. Nhận thấy việc từ chối giải quyết hồ sơ đăng ký biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Kim A là không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên bà Kim A khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết:
- Hủy Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐ ngày 11/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, về việc: Hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A;
- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ1, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện đúng nhiệm vụ công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tôi.
Tại Công văn số 2826/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 14/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện là Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện là ông Nguyễn Tấn T trình bày:
Thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, có diện tích 742,9m2 trong đó có 499,5m2 đất ở tại nông thôn và 243,4m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667122 ngày 10/9/2018 cho ông Hồ Văn Đ. Ngày 26/9/2018 Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác nhận tại trang 3 Giấy chứng nhận số CO 667122 với nội dung đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính. Ngày 20/8/2019 Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác nhận tại trang 3 Giấy chứng nhận số CO 667122 với nội dung chuyển nhượng cho bà Bùi Thị Thanh T1. Sau đó bà T1 lập Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Lê Thị Kim A. Ngày 05/9/2023 bà Lê Thị Kim A nộp hồ sơ nhận chuyển quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận số CO 667122 đến Chi nhánh Văn phòng Đ1. Qua thẩm tra hồ sơ, xét thấy phần diện tích 499,5m2 đất ở tại nông thôn có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Do đó, ngày 11/9/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã ban hành Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị Kim A. Do vướng mắc về giải quyết các thửa đất được chuyển mục đích sử dụng đất trái quy hoạch sử dụng đất chưa được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết nên việc Chi nhánh Văn phòng Đ1 hoàn trả hồ sơ cho bà Lê Thị Kim A là phù hợp và đúng quy định. Sau khi UBND thành phố P xử lý xong việc sai sót nêu trên thì Chi nhánh Văn phòng Đ1 sẽ thông báo đến bà Lê Thị Kim A nộp lại hồ sơ và giải quyết theo quy định.
Tại Công văn số 11020/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 16/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Chi nhánh Văn phòng Đ1 là ông Nguyễn Tấn T trình bày: Ngày 05/9/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ1 có tiếp nhận hồ sơ cập nhật chỉnh lý nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A tại biên nhận số 2023-14238/TNHS đối với khu đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667122 ngày 10/9/2018, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Bùi Thị Thanh T1 ngày 20/8/2019.
Tuy nhiên, qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích đất ở của thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận số CO 667122 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Hồ Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch là đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố P, ban hành Công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020, xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B đối với các hồ sơ liên quan đến đất được chuyển mục đích sử dụng nhưng chưa đảm bảo theo quy định.
Ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ1 nhận được Công văn phúc đáp số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B nội dung văn bản thể hiện: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng Đ1, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020, gửi UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh C1 ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của Ủy ban nhân dân thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh”. Đồng thời ngày 22/3/2023 Chi nhánh Văn phòng có Công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT, gửi Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Ủy ban nhân dân thành phố P, báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).
Như vậy, căn cứ Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng Đ thì hiện nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 11/9/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ1 đã ban hành Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT, về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A.
Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng Đ1 thì Chi nhánh Văn phòng Đ1 sẽ thông báo lại cho bà Lê Thị Kim A được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày: Thửa đất mà bà Lê Thị Kim A đăng ký chuyển quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, diện tích 742,9m2 trong đó 499,5m2 đất ở nông thôn và 243,4m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667122, số vào sổ cấp GCN: CH 02379 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 10/9/2018 cho ông Hồ Văn Đ được Chi nhánh Văn phòng Đ1 cập nhật chỉnh lý biến động sang bà Bùi Thị Thanh T1 vào ngày 20/8/2019.
Ngày 19/7/2018, Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định số 5277/QĐ-UBND về việc cho phép ông Hồ Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất (vị trí được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 119-2018 do Chi nhánh Văn phòng Đ2 ngày 21/6/2018). Theo nội dung Quyết định cho phép ông Hồ Văn Đ được chuyển sang sử dụng vào mục đích đất ở nông thôn với diện tích 1.085,9m2 .
Tại Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc cho phép ông Hồ Văn Đ được chuyển mục đích sử dụng đất thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018.
Qua đối chiếu vị trí khu đất cho chuyển mục đích (vị trí được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 119-2018 do Chi nhánh Văn phòng Đ2 ngày 21/6/2018) với Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018, thì vị trí khu đất xin phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
Căn cứ Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép ông Hồ Văn Đ chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định số 5277/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 là không phù hợp với Quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật.
Ngày 11/9/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ1 có Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A.
Do đó, đối với nội dung mà bà Lê Thị Kim A yêu cầu Tòa án hủy Thông báo 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 11/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện đúng nhiệm vụ công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ1 là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Hồ H, bà Bùi Thị Thanh T1 do bà Lê Thị Kim A đại diện theo ủy quyền trình bày:
Nội dung trình bày của người khởi kiện đúng với quá trình quản lý, sử dụng đất thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, diện tích 742,9m2 trong đó 499,5m2 đất ở nông thôn và 243,4m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim A.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý, giải quyết và đưa vụ án ra xét xử đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, các bên đương sự chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện yêu cầu hủy Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 11/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A. Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ1, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Bà Lê Thị Kim A khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 11/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1; buộc Chi nhánh Văn phòng Đ1, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải thực hiện đúng nhiệm vụ, công vụ được giao, Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT được Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành khi thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai, làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về thẩm quyền của Tòa án: Chi nhánh Văn phòng Đ1 là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu, tổ chức của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và không có tư cách pháp nhân, theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04/4/2015 của Bộ T2, Bộ N và Bộ T3. Do vậy, quyết định hành chính bị kiện mặc dù là do Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành nhưng Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B được xác định là người bị kiện theo quy định tại khoản 9 Điều 3 của Luật Tố tụng hành chính. Văn phòng Đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT được Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành ngày 11/9/2023 và bà Kim A nộp đơn khởi kiện đối với thông báo này vào ngày 13/9/2023 theo Giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện số 381/TABT-HCTP của Tổ Hành chính tư pháp - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của bà Kim A là trong thời hiệu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người bị kiện; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có ủy quyền, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Người tham gia tố tụng có mặt và đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiến hành phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 158 của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, diện tích 742,9m2 trong đó 499,5m2 đất ở nông thôn và 243,4m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp quyền sử dụng cho ông Hồ Văn Đ tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667122 ngày 10/9/2018 với mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm. Ngày 20/8/2019 ông Đ chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho bà Bùi Thị Thanh T1. Bà T1 và chồng là Đinh Hồ H chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho bà Lê Thị Kim A theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C chứng thực ngày 05/9/2023.
Ngày 05/9/2023 bà Lê Thị Kim A nộp hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ1. Ngày 11/9/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐ hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A với lý do thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, có diện tích 742,9m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667122 có nguồn gốc được chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B nên sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo hướng dẫn giải quyết các vướng mắc thì Chi nhánh Văn phòng Đ1 giải quyết hồ sơ cho bà Kim A.
Như vậy, ngoài lý do thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, có diện tích 742,9m2 được chuyển mục đích sử dụng trái với quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B thì Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ1, không viện dẫn lý do nào khác, dẫn đến việc trả hồ sơ đề nghị đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của bà Kim A. Đồng thời, Văn phòng Đ cũng như Chi nhánh Văn phòng Đ1 cũng không cung cấp được bất kỳ quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có nội dung cấm hoặc hạn chế quyền sử dụng đối với thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, có diện tích 742,9m2 hay thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 667122. Như vậy, quyền sử dụng đất của ông Hồ Văn Đ, cập nhật biến động cho bà Bùi Thị Thanh T1 đối với thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, có diện tích 742,9m2, địa chỉ đất tại Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc Giấy chứng nhận số CO 667122 là không bị ảnh hưởng và bà Kim A không bị Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác định là đối tượng không được phép nhận chuyển nhượng.
Mặt khác, theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, việc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở kết quả giao dịch dân sự có hiệu lực. Nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện đăng ký biến động là của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC.
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đối với thửa đất số 1174, tờ bản đồ số 9, có diện tích 742,9m2 nếu có sai phạm thì sẽ được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật và hậu quả của việc này nếu có cũng được giải quyết theo quy định của pháp luật. Và sai phạm này (nếu có) cũng không phủ định quyền sử dụng đất của ông Hồ Văn Đ đối với diện tích đất này.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xác định việc Chi nhánh Văn phòng Đ1 không thực hiện hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất theo Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 11/9/2023 là xâm phạm đến quyền của người sử dụng đất được quy định tại Điều 167 Luật Đất đai, nên yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim A như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận nên Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại Điều 348 Luật Tố tụng hành chính, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1, 2, 9 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32, Điều 116, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;
- Điều 166, Điều 167, khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai;
- Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
- Điều 2, khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04/4/2015 của Bộ T2, Bộ N và Bộ T3, về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng Đăng ký đất đai trực thuộc Sở T;
- Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim A:
- Hủy Thông báo số 1388/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 11/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Kim A.
- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí:
- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
- Bà Lê Thị Kim A được nhận lại 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020609 ngày 18/10/2023.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, Tòa HC, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Chín |