- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp tiền hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quý T về việc đòi tiền hụi.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U TỈNH C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2024/DS-ST Ngày 27-3-2024 V/v tranh chấp “Tiền hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Việt Bắc;
Ông Trịnh Hữu Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh C tham gia phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp tiền hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Quý T, sinh năm: 1956.
- Bị đơn: 1. Bà Huỳnh Thị N (Huỳnh Hồng L), sinh năm: 1982.
2. Ông Nguyễn Hoàng H (tên gọi khác: T1), sinh năm: 1979.
Cùng địa chỉ: Khóm C, thị trấn U, huyện U, tỉnh C.
(Ông T có mặt, ông H, bà N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Quý T trình bày: Ông có tham gia hụi do vợ chồng bà N và ông H làm chủ dây hụi mở ngày 15/4/2022 âm lịch tham gia 01 chân, đóng được 12 tháng đến tháng 02/2023 âm lịch (tháng 02 sau), loại hụi 2.000.000 đồng/tháng; Sau đó thì bà N và ông H đình hụi không gom hụi và cũng không trả lại tiền hụi đã đóng cho ông nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà N và ông H phải trả lại số tiền hụi còn thiếu là 24.000.000 đồng. Quá trình hòa giải ông đã thỏa thuận đồng ý chỉ yêu cầu bà N và ông H trả lại tiền hụi bằng số tiền đã đóng tương đương số tiền 16.000.000 đồng, hàng tháng trả bao nhiêu thì đến thi hành án thi hành yêu cầu.
- Tại biên bản hòa giải ngày 17/01/2024, bị đơn bà Huỳnh Thị N trình bày: Ông T có tham gia hụi do bà làm chủ, dây hụi, loại hụi và số lần ông T đóng hụi đúng theo như ông T trình bày. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T thì hụi bị bể nên xin được trả lại tiền hụi cho ông T bằng số tiền ông T đã đóng tương đương 12 lần bằng số tiền 16.000.000 đồng.
- Bị đơn ông H vắng mặt trong quá trình tố tụng và vắng mặt tại phiên tòa, không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu nguyên đơn.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của minh theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự, Điều 16 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi họ, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Nguyễn Hoàng H và bà Huỳnh Thị N trả tiền hụi còn thiếu cho ông Lê Quý T số tiền 16.000.000 đồng. Án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Quý T yêu cầu ông Nguyễn Hoàng H và bà Huỳnh Thị N trả tiền hụi, tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp dân sự về hụi và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông H và bà N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông H và bà N.
Về nội dung: Xét thấy, bà N thừa nhận vợ chồng có làm chủ hụi và còn thiếu tiền hụi của ông T là hụi viên, loại hụi ông T tham gia là 2.000.000 đồng/tháng đã đóng được 12 lần. Quá trình tố tụng, bà N và ông T thống nhất số tiền hụi bà N còn thiếu tính theo số tiền hụi đã đóng của 12 lần tương đương số tiền 16.000.000 đồng nên ông T khởi kiện đòi tiền hụi là có căn cứ chấp nhận. Bà N và ông H là vợ chồng, Tòa án đã thông báo ý kiến thỏa thuận của bà N và ông T cho ông H nhưng ông H không có văn bản có ý kiến thống nhất, do nợ phát sinh trong thời kì hôn nhân giữa bà N và ông H nên ông H phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà N trả tiền nợ này, từ đó, buộc ông Nguyễn Hoàng H và bà Huỳnh Thị N có nghĩa vụ liên đới trả tiền hụi còn thiếu cho ông Lê Quý T tiền hụi còn thiếu là 16.000.0000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Đề nghị của kiểm sát viên về việc chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
Về án phí: Ông Nguyễn Hoàng H và bà Huỳnh Thị N liên đới chịu án phí là 16.000.000 đồng x 5% = 800.000đồng. Yêu cầu của ông T được chấp nhận nên không phải chịu án phí, ông T không nộp tạm ứng án phí do thuộc trường hợp được miễn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 144; khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 16, 17 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quý T về việc đòi tiền hụi. Buộc ông Nguyễn Hoàng H và bà Huỳnh Thị N (Huỳnh Hồng L) có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Quý T số tiền hụi còn thiếu là 16.000.000 (Mười sáu triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Nguyễn Hoàng H và bà Huỳnh Thị N (Huỳnh Hồng L) có nghĩa vụ liên đới chịu án phí là 800.000 (Tám trăm ngàn) đồng.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh C; - VKSND huyện U; - Chi cục THADS huyện U; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Việt Hằng |