vanban.org

Bản án 38/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 02/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trôm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HSST
Ngày: 02/06/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Lương Anh Xuân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Bá Thảo.

Bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 06 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 03 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 05 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh S - Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ; Sinh ngày 09/05/2004; Nơi cư trú: xóm Nho H, xã Nghĩa A, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Đình Ch – sinh năm 1982; con bà: Võ Thị Ph – sinh năm 1985; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Võ Quang H – Sinh năm 2004. Vắng mặt.

Trú tại: xóm Nho H, xã Nghĩa An, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng: Chị Võ Thị Anh Th– sinh năm 2006. Vắng mặt.

Trú tại: xóm Nho H, xã Nghĩa An, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

Anh Nguyễn Đình T – sinh năm 2004. Vắng mặt.

Trú tại: xóm Nho H, xã Nghĩa An, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 19/11/2022, Võ Quang H tổ chức sinh nhật tại nhà ở xóm Nho H, xã Nghĩa A, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An nên có mời một số bạn bè đến dự tiệc gồm Nguyễn Thị Thanh S, Võ Thị Anh Th, Nguyễn Đình T đều trú cùng xóm với H và Lê Ngọc D, Võ Thái B, Võ Đức Gi đều trú tại: xóm Hữu L, xã Nghĩa A, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau khi ăn uống xong, mọi người cùng hát Karaoke tại sân nhà H thì Võ Thị Anh Th cầm điện thoại của H để chọn bài hát, mọi người hát được một lúc thì Micro hết pin nên Th chở Nguyễn Thị Thanh S đi mua pin, do Th điều khiển xe nên Th đưa máy điện thoại của H cho S cầm. Sau khi mua pin về thì S vẫn cầm điện thoại của H để chơi do trước đó Th đã mở khóa, Sơn chơi được một lúc thì điện thoại tắt màn hình chờ, S vào hỏi H mật khẩu để mở máy điện thoại nhưng thấy H đã say nên S cầm điện thoại quay ra. Một lúc sau, H rủ S cùng Võ Thái Bo, Nguyễn Đình T đi uống nước tại quán 1999. Trước khi đi uống nước thì S đã cất dấu chiếc điện thoại của H tại giỏ xe máy của T. Thấy H say không còn tỉnh táo nên Sơn đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của H để bán lấy tiền tiêu sài. Sau đi uống nước về S nghe B nói H đang tìm điện thoại thì S xuống gặp H nói là sau khi hát xong S đã trả lại chiếc điện thoại tại loa kéo nhà H. Sau đó, S đến nhà T tìm kiếm và lấy chiếc điện thoại của H mang đi cất giấu và biết điện thoại của H bật định vị nên S đưa ra khu vực Bến xe Mỹ Đình Hà Nội tìm quán thu mua điện thoại cũ để bán nhưng vì tài khoản Icloud mang tên H và không biết mật khẩu mở máy nên chủ quán không mua. Để tránh H phát hiện nên S đã chạy lại chương trình của điện thoại, sau đó S nghe tin Công an triệu tập lên làm việc, biết không thể trốn tránh nên đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghĩa Đàn đầu thú và giao nộp điện thoại Iphone11, bản 64G màu trắng đã lấy trộm của Võ Quang H.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16 ngày 12/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Nghĩa Đàn kết luận: Một chiếc điện thoại Iphone11, bản 64G màu trắng, số máy MHDC3VN/A, số seri DX3HKL6YN736, điện thoại đã qua sử dụng có giá trên thị trường vào ngày 19/11/2022 là 10.500.000 đồng (Mười triệu, năm trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 13/CT-VKSNgĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51và điều 38 - Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh S từ 06 đến 09 tháng tù; miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo; về vật chứng đã trả lại cho người bị hại nên không xem xét; Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm; về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bị hại vắng mặt có lời khai trình bày: Vào chiều ngày 19/11/2022, anh H tổ chức sinh nhật và có mời một số bạn bè đến dự tiệc gồm Nguyễn Thị Thanh S, Võ Thị Anh Th, Nguyễn Đình T, Lê Ngọc D, Võ Thái B, Võ Đức G đến nhà ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong thì mọi người hát karaoke, còn H do say rượu nên nằm ngủ. Sau đó tỉnh dậy, H rủ S cùng Võ Thái B, Nguyễn Đình T đi uống nước tại quán 1999. Sau khi về phát hiện mất máy điện thoại Iphone11, bản 64G màu trắng, đi tìm nhưng không thấy. Sau này biết Nguyễn Thị Thanh S lấy trộm. Nay anh H đã được trả lại chiếc điện thoại và không yêu cầu bị cáo bổi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự nữa.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung bản cáo trạng quy kết và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và cộng đồng xã hội để làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đã xác định được vào tối ngày 19/11/2022, Võ Quang H tổ chức sinh nhật tại nhà ở xóm Nho H, xã Nghĩa A, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, có mời một số bạn bè đến dự tiệc gồm Nguyễn Thị Thanh S, Võ Thị Anh Th, Nguyễn Đình T, Lê Ngọc D, Võ Thái B, Võ Đức G. Sau khi ăn uống xong, mọi người cùng hát Karaoke tại sân nhà H, Võ Thị Anh Th cầm điện thoại của H để chọn bài hát, hát được một lúc thì Micro hết pin nên Th điều khiển xe chở Nguyễn Thị Thanh S đi mua pin và đưa máy điện thoại của H cho S cầm. Khi mua pin về thì S vẫn cầm điện thoại của H để chơi. Sau đó, H rủ S cùng Võ Thái B, Nguyễn Đình T đi uống nước tại quán 1999. Trước khi đi uống nước thì S thấy H say không còn tỉnh táo nên S đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của H để bán lấy tiền tiêu sài nên đã cất dấu chiếc điện thoại của H tại giỏ xe máy của Tài. Khi đi uống nước về S nghe nói H đang tìm điện thoại thì S đến gặp H nói là S đã trả lại chiếc điện thoại tại loa kéo nhà H. Sau đó, S đến nhà T lấy chiếc điện thoại của H đưa đi cất giấu và biết điện thoại của H bật định vị nên S đưa ra khu vực Bến xe Mỹ Đình Hà Nội tìm quán thu mua điện thoại cũ để bán nhưng vì tài khoản Icloud mang tên H và không biết mật khẩu mở máy nên chủ quán không mua. Để tránh H phát hiện, Sơn đã chạy lại chương trình của điện thoại, sau đó S nghe tin Công an triệu tập lên làm việc, biết không thể trốn tránh nên đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghĩa Đàn đầu thú và giao nộp điện thoại Iphone11, bản 64G màu trắng với trị giá 10.500.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra bị cáo đã trả lại cho người bị hại chiếc điện thoại bị cáo lấy trộm để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình điều tra bị cáo ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cũng được xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Xét thấy bị cáo ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng do muốn có tiền chơi bời và tiêu xài cho bản thân nên đã đẩy bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, do đó cần xét xử nghiêm để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền trộm cắp đã tự nguyện trả lại cho người bị hại, sau khi phạm tội ra đầu thú nên cung xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng và Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về khấu trừ thu nhập, phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và điều 38 - Bộ

luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh S 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/05/2023.

- Về án phí: Áp dụng điều 136 - Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ