vanban.org

Bản án 38/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 23/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Khà A C phạm tội Đe dọa giết người. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khà A C - phạm tội đe dọa giết người (điều 133 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 66 Luật Quản lý; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

––––––––––––
Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày: 23-6-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Linh và bà Lường Thị Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Khà Thị Thanh Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Tới- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2023/TLST - HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/HSST – QĐ ngày 16/6/2023 đối với bị cáo:

Khà A C, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1982, tại huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình; nơi cư trú: Xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hoà Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khà A S và bà Vàng Y X (đều đã chết); bị cáo có vợ là Giàng Y D, sinh năm 1984 và có 04 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/9/2022 bị Công an xã H, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền, số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, tại Quyết định số: 04/QĐ – XPHC (đã nộp phạt ngày 13/9/2022); ngày 23/9/2022 bị UBND xã H quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng, tại Quyết định số: 230/QĐ-XPTT; nhân thân: Ngày 12/7/2022 bị Công an xã H, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình xử phạt hành chính, hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, tại Quyết định số: 03/QĐ – XPHC; không có án tích, xử lý kỷ luật đã được xoá, có sử dụng, nghiện chất ma tuý. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/02/2023, chuyển tạm giam từ ngày 16/02/2023. Có mặt.

Bị hại: Anh Khà A L, sinh năm 1977, nơi cư trú: Xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

Người làm chứng:

- Chị Giàng Y D, sinh năm 1984, nơi cư trú: Xóm Th, xã H, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Chị Vàng Y S, sinh năm 1976, nơi cư trú: Xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Chị Sồng Thị P, sinh năm 2001, nơi cư trú: Xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Anh Khà A D, sinh năm 2001, nơi cư trú: Xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

Người phiên dịch: Anh Hàng A H, nơi công tác: Chi cục Thi hành án dân sự huyện M. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 06/02/2023, do Khà A C, sinh năm 1982, trú tại xóm Th, xã H, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình nghi ngờ vợ là Giàng Y D, sinh năm 1984 có quan hệ bất chính với anh trai C là Khà A L, sinh năm 1977, cùng trú tại xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình nên hai vợ chồng C xảy ra mâu thuẫn. Trưa ngày 07/02/2023, tại nhà ở của mình C và vợ tiếp tục cãi vã nhau, lo sợ bị C đánh nên chị D đã đưa 02 người con đi sang nhà C anh Khà A L để tránh. Khoảng 13 giờ 30 phút, Khà A C mang theo 01 khẩu súng (đeo trên vai), trong súng có sẵn 01 viên đạn, tay trái cầm 01 viên đạn, tay phải cầm 01 cây gậy, trên người C còn đeo 01 chiếc túi bên trong có 01 con dao (để sẵn trong túi từ trước), rồi sang nhà anh Khà A L. Khi đi đến sân nhà anh L thấy chị D và chị Vàng Y S (là vợ của anh L) đang ngồi may váy ở ngoài sân thì C đứng lại chửi mắng và đe dọa sẽ giết chị D và anh L. Lúc này Khà A L ở phía trong nhà phát hiện C cầm súng sang thì cầm sẵn 01 gậy gỗ rồi đi ra ngoài sân. Thấy anh L đi ra, C tiến đến gần anh L và có lời nói đe dọa giết anh L, đồng thời dùng súng chĩa thẳng về phía người anh L. Thấy vậy, anh L dùng gậy đang cầm trên tay vụt vào nòng súng khiến súng và đạn rơi xuống nền sân. Sau đó Khà A C đã bị anh L cùng người thân khống chế, sự việc kết thúc. Đến 16 giờ 30 phút nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Khà A C đã đến Công an huyện Mai Châu để đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra Khà A C khai nhận: Nguồn gốc khẩu súng trên là của bố đẻ C để lại. Trước khi xảy ra sự việc trên Khà A C đã sử dụng súng này để đi săn bắn, nhưng khi bóp cò để bắn, kim hỏa đã tác động vào đáy viên đạn nhưng đạn không nổ và bị kẹt lại trong súng. Bản thân C cho rằng viên đạn bị kẹt trong khẩu súng không bắn được, việc C chĩa súng vào anh Khà A L là để đe dọa không có ý định tước đoạt sinh mạng của anh L.

Tại Kết luận giám định số: 886/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an đã kết luận khẩu súng Khà A C dùng đe dọa giết người là súng săn, không phải súng quân dụng, còn sử dụng bắn được đạn ghém cỡ 12. Hai viên đạn và một vỏ đạn là đạn và vỏ đạn của loại đạn ghém cỡ 12, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng. Đáy viên đạn thu được của Giàng Y D có dấu hiệu của kim hỏa súng tác động, đáy viên đạn thu được của Vàng Y Sai không có dấu vết của kim hỏa súng tác động. Sử dụng khẩu súng và viên đạn thu của Vàng Y Sai bắn vào cơ thể người có thể gây chết hoặc bị thương. Cấu tạo viên đạn thu của Giàng Y D không đủ thành phần nên khi sử dụng bắn không gây sát thương. Khẩu súng trên không bắn ra các vỏ đạn, đầu đạn của các vụ án trước, hiện lưu tại Tàng thư dấu vết súng đạn của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an.

Tại Cáo trạng số: 26/CT - VKS - HS ngày 05/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố bị cáo Khà A C về tội Đe doạ giết người.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau.

Về tội danh, hình phạt:

- Đề nghị tuyên bố bị cáo Khà A C phạm tội Đe doạ giết người.

- Căn cứ khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Khà A C từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 07/02/2023.

Về xử lý vật chứng và bồi thường thiệt hại:

- Đối với 01 khẩu súng săn dài 115 cm, trên thân nòng súng có chữ SELECTED FORGED STEEL PROO TESTED 12 GAUGE – 23/4 INCH CHAMBER; 01 viên đạn dài 6,8 cm, vỏ bằng kim loại, bên trong bịt bằng giấy, ở phần đáy có vết lõm có dấu hiệu của kim hỏa tác động và 01 viên đạn dài 6,8 cm bên trong bịt bằng giấy, 01 vỏ đạn dài 6,8 cm bên trong rỗng ruột, không phải là vũ khí quân dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy, giao cho Công an huyện Mai Châu thực hiện việc tiêu hủy theo thẩm quyền.

- Đối với 01 cây gậy gỗ hình trụ tròn dài 133 cm, một đầu đường kính 03 cm, một đầu có đường kính 2,1 cm tạm giữ của Khà A L, không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với con dao dài 29,9 cm đầu nhọn bằng kim loại, cán bằng gỗ, dao cũ đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Khà A L không yêu cầu bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì khác, đề nghị không xét đến.

Về các vấn đề khác: Đối với hành vi Khà A C chửi mắng và có lời nói đe dọa giết chị Giàng Y D. Kết quả điều tra xác định, bị cáo không chĩa súng vào chị D, chỉ có lời nói đe dọa ở mức độ bình thường nên về chủ quan chị D không cảm thấy lo sợ rằng việc đe dọa sẽ được thực hiện do vậy không đủ căn cứ đề nghị xử lý.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thắc mắc gì, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình. Do bị cáo nghi ngờ vợ và anh trai bị cáo có quan hệ tình cảm nên đã có lời nói, hành vi dùng súng săn đe doạ giết anh L, bị cáo không có ý định giết anh L, viên đạn lắp trong súng là viên đạn đã hỏng, bị cáo để nguyên trong súng từ trước. Sau sự việc xảy ra bị cáo đã thành khẩn khai báo, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

Ý kiến của bị hại: Khoảng 13 giờ ngày 07/02/2023 anh Khà A L đang ở nhà thì nghe tiếng bị cáo chửi mắng ở ngoài sân, khi anh L ra sân thì bị cáo dùng súng chĩa vào anh L có những lời nói đe dọa giết anh L, việc đe dọa giết người của Khà A C với thái độ hung hăng, nóng tính, căng thẳng, quyết liệt, liên tục và đã chĩa súng vào người anh L ở khoảng cách gần khoảng 1,5 m nên đã làm cho anh L lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. anh L dùng gậy vụt để phòng vệ làm súng, đạn rơi xuống, anh L không rõ bị cáo có kéo búa súng và bóp cò súng hay không. Sau đó hai người giằng co và khống chế được bị cáo. Anh L xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bồi thường và không có yêu cầu gì khác.

Ý kiến của những người làm chứng Chị Giàng Y D, Vàng Y S tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa và ý kiến của người làm chứng khác là Sồng Thị P vắng mặt tại phiên tòa có ý kiến tại cơ quan điều tra như sau: Ngày 07/02/2023 đều nhìn thấy bị cáo cầm theo khẩu súng, dao, gậy sang nhà anh L chửi bới, sau đó dùng súng chĩa về phía anh L đang đứng, không chĩa súng vào chị D, có lời nói đe doạ giết anh L với thái độ rất căng thẳng, thấy bị cáo và anh L xô xát nên đã can ngăn, sau đó bị cáo được đưa đến công an giải quyết. Về việc có kéo búa súng và có bóp cò hay không những người làm chứng đều trình bày là không rõ, không nghe có tiếng súng nổ. Giàng Y D có bị C nói dọa giết, không chĩa súng vào D và D nghĩ việc đe dọa bằng lời nói sẽ không được thực hiện, D đã giao nộp 01 súng và 01 viên đạn, Vàng Y Sai thấy 01 viên đạn và 01 vỏ đạn rơi xuống đất khi L và C giằng co, vật lộn. Sau đó đều đã đem nộp cho cơ quan Công an.

Ý kiến của những người làm chứng Khà A D1 vắng mặt tại phiên tòa, có ý kiến tại cơ quan điều tra: Khoảng 13 giờ 30 ngày 07/02/2023 đang ngủ thấy ồn ào thì ra ngoài xem thấy bố mình là Khà A L đang vật lộn với chú ruột là Khà A C, D1 có nhìn thấy 01 khẩu súng dưới đất cách C khoảng 05 m D1 đã cất vào gần nhà D1 rồi đến ôm C để can ngăn. Trước ngày 07/02/2023 khoảng hai tuần Khà A C có gửi Súng và hai viên đạn 01 vỏ đạn ở nhà D1, đến trước 07/02/2023 02 ngày C đã đến lấy súng và đạn, D1 không có nhà, vợ D1 nói lại là C đã lấy Súng, đạn. Dế chỉ nhớ súng dài khoảng 1,2 m màu đen, gập nòng, bắn chỉ được một viên một lần, không nhớ đặc điểm đạn, không biết súng có lắp đạn không.

NHẬN ĐỊNH C TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã trình bày dùng súng săn đe doạ giết người của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội C bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/02/2023, tại nhà anh Khà A L ở xóm Th, xã H, huyện M, do nghi ngờ vợ là chị Giàng Y D có quan hệ bất chính với anh Khà A L nên Khà A C đã có lời nói chửi bới, đe dọa giết chết anh L, đồng thời có hành vi dùng súng săn chĩa vào người anh L đe dọa giết anh L. Hành vi đe dọa giết người của Khà A C với thái độ hung hăng, căng thẳng và đã chĩa súng vào người anh L ở khoảng cách gần nên đã có căn cứ làm cho anh L lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Bản thân C không có ý định tước đoạt sinh mạng của anh L. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Khà A C phạm tội Đe doạ giết người, theo quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự.

[2] Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến đến quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ về thể chất, tinh thần, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bố bị cáo đượng tặng thưởng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang; bị cáo là người dân tộc thiếu sống ở vùng đặc biệt khó khăn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị C đại diện Viện kiểm sát.

[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[8] Về án phí: Bị cáo Khà A C phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Khà A C phạm tội Đe dọa giết người.

- Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Khà A C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 07/02/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 4, khoản 5 Điều 66 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, được sửa đổi bổ sung năm 2019 tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng săn dài 115 cm, trên thân nòng súng có chữ SELECTED FORGED STEEL PROO TESTED 12 GAUGE – 23/4 INCH CHAMBER; 02 viên đạn và 01 vỏ đạn C loại đạn ghém cỡ 12 thuộc súng săn, trong đó 01 viên có dấu vết kim hỏa của súng tác động. Công an huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thực hiện việc tiêu hủy theo thẩm quyền.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 cây gậy gỗ hình trụ tròn dài 133 cm, một đầu đường kính 03 cm, một đầu có đường kính 2,1cm đã tạm giữ của Khà A L.

- Trả lại cho bị cáo Khà A C 01 con dao bằng kim loại dài 29,9 cm đầu nhọn cán bằng gỗ, dao cũ đã qua sử dụng.

(Vật chứng là súng, đạn, vỏ đạn nêu trên hiện đang gửi tại kho của Ban chỉ huy Quân sự huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình theo văn bản số: 228/CCTHADS ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu kèm theo Lệnh nhập kho. Các vật chứng khác nêu trên có tình trạng, đặc điểm cụ thể ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 40/THA ngày 13/6/2023 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Khà A C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ