vanban.org

Bản án 38/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 23/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s, điểm n khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H phạm tội tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s, điểm n khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KA
TỈNH HT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HSST
Ngày: 23 – 6 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KA TỈNH HT

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Nhưng

2. Bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư Ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KA tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KA xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 28/2023/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/XXHSST – HS, ngày 21/4/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Nguyễn Thị H; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 18 tháng 4 năm 1987, tại xã KX, huyện KA, tỉnh HT; nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ: Quần chúng; con ông: Nguyễn Ngọc H1; sinh năm 1963; con bà: Nguyễn Thị N; sinh năm 1962; chồng: Nguyễn Văn H2; sinh năm 1990; con: Có 02 con, đứa lớn tuổi sinh năm 2008; đứa nhỏ tuổi sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú’’ tại thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT, từ ngày 12/01/2023 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị L– sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT; nghề nghiệp: Lao động tự do ( Vắng mặt)

- Ông Nguyễn Văn H2– sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT; nghề nghiệp: Lao động tự do ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 03/01/2023, tại đường liên thôn, thuộc địa phận thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA bắt quả tang Nguyễn Thị H đang tàng trữ 05 (Năm) khối hình hộp, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài. Trong đó 03 khối hình hộp, kích thược mỗi khối 15,5 cm x12cm; 02 khối hình hộp, kích thước mỗi khối 14,5cmx14,5cmx12,5cm, đựng trong một túi ni lông màu đen. Quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA lập biên bản quả tang, H còn tự nguyện về nhà bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1960 (Mẹ chồng), ở thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT lấy ra và tự nguyện giao nộp 04 (Bốn) khối hình hộp, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài. Trong đó 03 (Ba) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 17,5cmx17,5cmx10cm; 01khối hình hộp, kích thước 14,5cmx14,5cmx12,5cm. Nguyễn Thị H khai nhận đó là pháo hoa nổ, mục đích mua về sử dụng lễ tân gia nhà mới và trong dịp tết nguyên đán 2023.

Vào lúc 22 giờ 55 phút và 23 giờ 25 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA đã tiến hành khám xét nhà ở của bà Nguyễn Thị Lvà nhà ở của Nguyễn Thị H, ở cùng thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến pháo nổ.

Quá trình điều tra Nguyễn Thị H khai nhận: Vào khoảng cuối tháng 09/2022, do có nhu cầu mua pháo hoa về sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023 và sử dụng mừng tân gia nhà mới, nên Nguyễn Thị H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh dương, gắn sim số 0869507185, đăng nhập vào tài khoản Facebook có tên “H Miumiu” của mình, tìm kiếm các bài viết có nội dung bán pháo hoa trên mạng xã hội Facebook để mua. Sau khi tìm kiếm, H thấy một bài viết có nội dung, bán pháo hoa của một tài khoản Facebook, nay H không nhớ tên hiển thị, nên H gọi cho người này qua ứng dụng Messenger hỏi mua 09 (Chín) hộp pháo hoa gồm 03 (Ba) hộp loại 49 quả và 06 (Sáu) hộp loại 36 quả. Quá trình gọi điện, H nghe giọng một người đàn ông nói và đồng ý bán cho H 09 (Chín) hộp pháo hoa với giá mỗi hộp 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng), H cung cấp địa chỉ nhận pháo, ở đường Quốc lộ 1A gần quán Cà phê “Vườn Mít”, thuộc địa phận thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT. Sau đó, người đàn ông này cho H số điện thoại của một nhà xe ô tô khách chạy tuyến Bắc, Nam và hẹn H khi nào số điện thoại này liên lạc thì đến nhận pháo ở địa điểm đã hẹn rồi đưa tiền mặt cho nhà xe luôn. Chiều ngày hôm sau, kể từ khi đặt pháo, H nhận được cuộc gọi đến từ số điện thoại, nay H không nhớ của một nhà xe chạy tuyến Bắc, Nam nói H ra quán Cà phê “Vườn Mít” để nhận pháo, nên H mang theo số tiền 8.550.000 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), đi bộ ra đường Quốc lộ 1A gần quán Cà phê “Vườn Mít” chờ. H đứng chờ khoảng 05 phút, thì thấy một xe khách chạy tuyến Bắc Nam, loại xe giường nằm, H không nhớ biển kiểm soát, dừng lại bên lề đường rồi có một người đàn ông xuống xe, bê một thùng cát tông, màu vàng, dán kín đưa cho H. H đưa cho người đàn ông này số tiền 8.550.000 đồng (Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) rồi bê thùng cát tông bên trong đựng 09 (Chín) hộp pháo về nhà bà Nguyễn Thị L, ở thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT cất dấu ở ngăn dưới của tủ sắt đựng quần áo trong phòng ngủ. Đến khoảng 20 giờ 40 phút ngày 03/01/2023, khi bà L đang nằm ngủ, H một mình bê thùng cát tông chứa 09 (Chín) hộp pháo hoa nói trên ra chia ra thành hai phần (Một phần 05 hộp bỏ vào túi ni lông màu đen đưa về nhà cất dấu và một phần 04 hộp) để lại chổ cũ. Khi H đang đưa theo 05 hộp pháo hoa về nhà cất dấu thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA, phát hiện bắt quả tang. Sau đó, H đã tự nguyện về nhà bà Nguyễn Thị L lấy thêm 04 (Bốn) hộp pháo hoa còn lại ra giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA đã niêm phong và trưng cầu giám định 03 (Ba) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 15,5cmx15,5cmx12cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài; 03 (Ba) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 14,5cmx14,5cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài và 03 (Ba) khối hình hộp, kích thước mỗi khối 17,5cmx17,5cmx10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài (Thu giữ khi bắt quả tang và thu giữ do Nguyễn Thị H giao nộp). Tại Bản kết luận giám định số 142/KL-KTHS ngày 11 tháng 01 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HT kết luận:

- 05 (Năm) khối hình hộp, trong đó có 03 (Ba) khối có cùng kích thước 15,5cmx15,5cmx12cm và 02 (Hai) khối có cùng kích thước 14,5cmx14,5cmx12,5cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài (Ký hiệu M1), thu giữ của Nguyễn Thị H khi bắt quả tang, gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 7,4kg (Bảy phẩy bốn kilôgam);

- 04 (Bốn) khối hình hộp, trong đó có 03 (Ba) khối có cùng kích thước 17,5cmx17,5cmx10cm và 01 (Một) khối có kích thước 14,5cmx14,5cmx12,5cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài (Ký hiệu M2), do Nguyễn Thị H giao nộp khi bị bắt quả tang, gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 7,02kg (Bảy phẩy không hai kilôgam).

Tổng khối lượng pháo nổ mà Nguyễn Thị H tàng trữ nhằm mục đích sử dụng là 14,42kg (Mười bốn phẩy bốn mươi hai kilôgam).

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA đã thu giữ các vật chứng gồm:

- 05 (Năm) khối hình hộp, trong đó có 03 (Ba) khối có cùng kích thước 15,5cmx15,5cmx12cm và 02 (Hai) khối có cùng kích thước 14,5cmx14,5x12,5cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài có khối lượng là 7,4kg (Bảy phẩy bốn kilôgam) đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 05 ống hình trụ tròn, với khối lượng 0,20kg (không phẩy hai mươi kilôgam), khối lượng còn lại là 7,2 kg (Bảy phẩy hai kilôgam), đã đóng gói niêm phong.

- 04 (Bốn) khối hình hộp, trong đó có 03 (Ba) khối có cùng kích thước 17,5cmx17,5cmx10cm và 01 (Một) khối có kích thước 14,5cmx14,5cmx12,5cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài có khối lượng 7,02 kg (Bảy phẩy không hai kilôgam), đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 04 ống hình trụ tròn, với khối lượng 0,12 kg (không phẩy mười hai kilôgam); khối lượng còn lại là 6,9 kg (Sáu phẩy chín kilôgam), đã đóng gói niêm phong.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh dương, số Imei 1: 353279111425214, số Imei 2: 353280111452212, bên trong gắn sim số 0869507185, thu của Nguyễn Thị H.

Các vật chứng nói trên được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện KA để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT- VKSKA ngày 28 tháng 3 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện KA đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hvề tội “Tàng trử hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng diểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s, điểm n khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Htừ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H về cho UBND xã KP, huyện KA, tỉnh HT và gia đình trực tiếp giám sát và giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tich thu tiêu huỷ 14,1 kg pháo nổ và một sim điện thoại số 0869507185; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh dương, số Imei 1: 353279111425214, số Imei 2: 353280111452212.

Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Nguyễn Thị Hphải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xét thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Vậy mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện KA, tỉnh HT, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện KA, tỉnh HT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Chứng cứ: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 03/01/2023, tại đường liên thôn, thuộc địa phận thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA, tỉnh HT phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị H đang tàng trữ 05 (Năm) hộp pháo hoa nổ có khối lượng 7,4kg (Bảy phẩy bốn kilôgam), sau khi bị bắt quả tang Nguyễn Thị H còn tự nguyện giao nộp thêm 04 (Bốn) hộp pháo hoa nổ có khối lượng 7,02kg (Bảy phẩy không hai kilôgam) cất dấu tại nhà bà Nguyễn Thị L, ở thôn ĐS, xã KP, huyện KA, tỉnh HT. Tổng khối lượng Nguyễn Thị H tàng trữ là 09 (Chín) hộp pháo hoa nổ có khối lượng 14,42kg (Mười bốn phẩy bốn mươi hai kilôgam), là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ do nước ngoài sản xuất. H khai nhận số pháo trên H mua của một người đàn ông (Không r họ tên, địa chỉ) trên mạng xã hội Facebook, với tổng số tiền 8.550.000đ (Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng), đưa về để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của Nguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội“ Tàng trử hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này chỉ có một mình Nguyễn Thị H thực hiện, không có đồng phạm.

. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Mặc dù biết được chủ trương của Nhà nước về việc cấm các hành vi “Sản xuất, tàng trử, vận chuyển, buôn bán pháo nổ” nhưng coi thường pháp luật nên Nguyễn Thị Hđã móc nối với các phần tử xấu để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội là phụ nữ có thai quy định tại các điểm i, điểm s, điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú r ràng, HĐXX xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử cho bị cáo được hưởng án treo.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Đối với các vấn đề liên quan:

Đối với người đàn ông không rõ lý lịch, địa chỉ cụ thể, Nguyễn Thị H khai nhận là người đã bán pháo nổ cho H. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch của đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Thị Llà chủ gia đình nơi H cất dấu 09 hộp pháo, với tổng khối lượng 14,42kg (Mười bốn phẩy bốn mươi hai kilôgam). Quá trình điều tra xác định việc H cất dấu pháo, bà L không biết và không cho phép, nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Đối với anh Nguyễn Văn H2 là chồng cuả bị cáo Nguyễn Thị H. Quá trình điều tra xác định việc bị cáo H mua pháo về sử dụng, anh H không biết, nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

. Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KA đã thu giữ các vật chứng gồm:

- 05 (Năm) khối hình hộp, trong đó có 03 (Ba) khối có cùng kích thước 15,5cmx15,5cmx12cm và 02 (Hai) khối có cùng kích thước 14,5cmx14,5x12,5cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài có khối lượng là 7,4kg (Bảy phẩy bốn kilôgam) đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 05 ống hình trụ tròn, với khối lượng 0,20kg (không phẩy hai mươi kilôgam), khối lượng còn lại là 7,2 kg (Bảy phẩy hai kilôgam), đã đóng gói niêm phong.

- 04 (Bốn) khối hình hộp, trong đó có 03 (Ba) khối có cùng kích thước 17,5cmx17,5cmx10cm và 01 (Một) khối có kích thước 14,5cmx14,5cmx12,5cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và ký tự nước ngoài có khối lượng 7,02 kg (Bảy phẩy không hai kilôgam), đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 04 ống hình trụ tròn, với khối lượng 0,12 kg (không phẩy mười hai kilôgam); khối lượng còn lại là 6,9 kg (Sáu phẩy chín kilôgam), đã đóng gói niêm phong.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh dương, số Imei 1: 353279111425214, số Imei 2: 353280111452212, bên trong gắn sim số 0869507185. Hội đồng xét xử xét thấy số pháo nói trên là hành cấm, còn 01 (Một) điện thoại di động nói trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, vì vậy tịch thu tiêu huỷ số pháo nói trên và một sim điện thoại số 0869507185; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước một điện thoại di động nói trên, theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s, điểm n khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trử hàng cấm”

Xử phạt Nguyễn Thị H 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H về cho UBND xã KP, huyện KA, tỉnh HT và gia đình trực tiếp giám sát và giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về vật chứng vụ án: Tich thu tiêu huỷ 14,1 kg pháo nổ và một sim điện thoại số 0869507185; tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu xanh dương, số Imei 1: 353279111425214, số Imei 2: 353280111452212.

Về án phí: Xử buộc Nguyễn Thị Hphải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ