- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Sa S cùng đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HS-ST Ngày 20 – 02 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Bảo Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại Hội trường xét xử - Trụ sở Tòa án nhân
dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2023/TLST-HS, ngày 16 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Trương Sa T, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997, tại: Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ dân phố HS, phường NT, thành phố PY, tỉnh TN; nghề
nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Ngọc T; Con bà: Nguyễn Thị L; Có vợ là Hoàng Thúy N; Vợ chồng có 02 con chung, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: 01, cụ thể: Năm 2018 bị Công an thị xã (nay là thành phố) P Y,
tỉnh TN xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 7627/QĐ-XPHC ngày 26/01/2018.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp
ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường N T, thành phố P Y, tỉnh TN. Có mặt.
2. Triệu Văn V, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997, tại: Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm ĐT, xã LB, huyện ĐT, tỉnh TN; nghề nghiệp: Công nhân;
trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ, đoàn thể: Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số: 103-QĐ/UBKTHU ngày 01/02/2023 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Con ông: Triệu Văn T; Con bà: Vũ Thị T; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp
ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã LB, huyện ĐT, tỉnh TN. Có mặt.
3. Lưu Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1996, tại: Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm N, xã NM, huyện PB, tỉnh TN; nghề nghiệp: Công nhân;
trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Văn Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T; Có vợ là Dương Thị Á; Vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp
ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã NM, huyện PB, tỉnh TN. Có mặt.
- Bị hại:
1. Công ty TNHH Deasin; Địa chỉ: Tổ dân phố Yên Mễ, phường Hồng
Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Văn H; sinh năm 1983; Nơi cư trú:
Tổ 6, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh TN. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Tạ Văn H, sinh năm 1999; Nơi cư trú: TDP TBCT, phường ĐT,
thành phố PY, tỉnh TN. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn T là công nhân của Công ty trách
nhiệm hữu hạn Daesin (Công ty Daesin) thuộc tổ dân phố Yên Mễ, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Do là đồng nghiệp, quen biết và làm việc với nhau nên cả T, V, T bàn bạc thống nhất sẽ cùng nhau trộm cắp các cụm màn hình điện thoại của Công ty Daesin để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 21 giờ ngày 19/10/2022, T nhận hàng là linh kiện điện thoại của Công ty Daesin và vận chuyển từ Line số 18 ở cuối xưởng B đến Line số 9 ở giữa xưởng B của Công ty Daesin nơi T làm việc thì gặp V, T nói với V: “Có làm không?” ý T là có trộm cắp tài sản của Công ty Daesin không thì V hiểu ý và nói với T: “Làm như thế nào?”, thì T bào V: “Mày cứ chuyển vào nhà vệ sinh rồi T đến lấy”, V đồng ý. Sau đó, T vận chuyển hàng đến Line số 9 thì phát hiện tại đây có xe chở hàng lỗi ở Line 9 nên thực hiện ý định trộm cắp tài sản. T quan sát xung quanh thấy không có ai nên T dùng tay trộm cắp từ số hàng mà T đang vận chuyển được 04 khay nhựa, mỗi khay chứa 06 cụm màn hình trước điện thoại Samsung A515 của công ty để vào xe chở hàng lỗi. T gọi điện thoại báo cho V biết để V mang số tài sản T trộm cắp được vào nhà vệ sinh cất giấu, V đồng ý và đi đến vị trí xe chở hàng lỗi, mang tổng cộng 24 cụm màn hình trước điện thoại Samsung A515 của công ty do T vừa trộm cắp được mang vào nhà vệ sinh của công ty cất giấu tại vị trí phía sau bồn cầu. Cất giấu xong, V gọi điện thoại báo cho T biết. T gọi điện thoại cho T để T mang số tài sản trên đi cất giấu tiếp, T đồng ý và đi lấy 01 chiếc thang của công ty bắc lên trần nhà tại vị trí ô thoáng ở nhà vệ sinh tầng 01. Sau đó, T lấy 24 cụm màn hình phía sau bồn cầu do V cất giấu trước đó cho vào túi áo T đang mặc và trèo thang đi lên tầng 02, đi đến ngách kho thiết bị tại tầng 02 và để số tài sản trộm cắp được tại đó. Sau đó, T đi xuống tầng 01 của xưởng B, rồi đi lên cầu thang bộ để lên kho thiết bị tại tầng 02 và đến vị trí T cất giấu tài sản trước đó, cuộn băng dính số tài sản trên lại thành 01 bó rồi T đi đến tủ cá nhân của T, lấy 01 chiếc áo công nhân có mũ màu vàng mang đến vị trí cất giấu tài sản. T cho số tài sản trộm cắp được vào bên trong chiếc áo để tránh bị phát hiện, đi đến giữa kho thiết bị cất vào bên trên 01 chiếc thùng đen trống và đậy 01 chiếc thùng khác lên để che giấu, mục đích có cơ hội sẽ mang ra ngoài để T, V, T bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Sau đó, T quay lại làm việc bình thường. Đến khoảng 04 giờ ngày 20/10/2022, anh Tạ Văn H (sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố TBCT, phường ĐT, thành phố PY, là công nhân của Công ty Daesin) đi lên kho thiết bị trên tầng 02 của Công ty thì phát hiện giữa lối đi có 02 chiếc thùng, ở giữa 02 chiếc thùng có áo công nhân nên anh H kiểm tra, phát hiện ra tài sản của công ty là các cụm màn hình trước điện thoại Samsung A515. Do nghi ngờ có người trộm cắp các cụm màn hình điện thoại nên anh H đã trình báo Công ty Daesin.
Ngày 31/10/2022, anh Hoàng Văn H (sinh năm 1983, trú tại Tổ 6, phường
TĐ, thành phố TN, tỉnh TN, là đại diện của Công ty Daesin) đã làm đơn trình báo Công an thành phố Phổ Yên đề nghị giải quyết, đồng thời anh H giao nộp 24 cụm màn hình mặt trước điện thoại Samsung A515, mã sản phẩm GH97-24302A là tài sản các đối tượng trộm cắp của công ty Daesin; 01 chiếc áo công nhân màu trắng, kẻ sọc, có 01 mũ kèm theo và 01 chiếc đĩa DVD chứa các video trích xuất từ camera tại Công ty Daesin ghi lại hình ảnh các đối tượng có hành vi trộm cắp tài sản cho Cơ quan điều tra để phục vụ quá trình điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên đã mời Trương Sa T, Triệu Văn V, Lưu Văn T lên làm việc. T, V, T đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình, đồng thời T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, V tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max cho Cơ quan điều tra để phục vụ quá trình điều tra.
Tại bản kết luận định giá số 92/KLĐG ngày 02/11/2022 của Hội đồng định
giá tài sản thành phố Phổ Yên kết luận: 24 cụm màn hình mặt trước điện thoại Samsung A515, mã sản phẩm GH97-24302A, chưa qua sử dụng, chưa xuất xưởng có trị giá là: 17.496.300 đồng.
Quá trình điều tra, Trương Sa T, Triệu Văn V, Lưu Văn T đã khai nhận
toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của T, V, T phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá, biên bản làm việc, biên bản khám nghiệm hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm:
- 24 cụm màn hình mặt trước điện thoại Samsung A515, mã sản phẩm
GH97-24302A; 01 chiếc áo công nhân màu trắng, kẻ sọc, có 01 mũ kèm theo. Hiện đã được trả lại cho chủ sở hữu là Công ty Daesin quản lý, sử dụng,
- 01 chiếc đĩa DVD, được chuyển theo hồ sơ vụ án,
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu trắng, số IMEI:
359487080999986 do T giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, số IMEI: 356171091749781 do V giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353895103096117 do T giao nộp. Hiện được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Công ty Daesin đã nhận lại tài sản là 24 cụm màn
hình mặt trước điện thoại Samsung A515 và 01 chiếc áo công nhân màu trắng, kẻ sọc, có 01 mũ kèm theo nên không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 37/CT-VKSPY ngày
16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 37/CT-VKSPY ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn
T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt chính: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm i, s
khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trương Sa T mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Xử phạt bị cáo Triệu Văn V mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Lưu Văn T mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho
hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 chiếc đĩa DVD, được chuyển theo
hồ sơ vụ án,
- Tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu Iphone 6s, màu trắng, số IMEI: 359487080999986 do Trường giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, số IMEI: 356171091749781 do Vinh giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353895103096117 do Trình giao nộp.
Ngoài ra, còn đề nghị các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo,
bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của
mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề
nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng
án treo, được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, để làm người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra
Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo
Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn T tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ản, dữ liệu trích xuất camera, kết luận định giá tài sản, biên bản thu giữ vật chứng … và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu nên khoảng 21 giờ ngày 19/10/2022, tại Công ty TNHH Daesin thuộc tổ dân phố YM, phường HT, thành phố PY, tỉnh TN; Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn T đã bàn bạc, thống nhất và cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 24 cụm màn hình mặt trước điện thoại Samsung A515 trị giá 17.496.300 đồng của Công ty TNHH Daesin thì bị phát hiện.
Hành vi, ý thức của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài
sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, bản Cáo trạng số: 37/CT-VKSPY ngày 16/01/2023 của Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng.…”.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Các bị cáo Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn T là người đã trưởng
thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy nhiên do lòng tham đã bất chấp các quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do các bị cáo hám lời,
không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự và vai trò các bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Qua phân tích các yêu cấu tố về nhân thân người phạm tội,
Hội đồng xét xử thấy:
Đối với các bị cáo Triệu Văn V, Lưu Văn T quá trình sinh sống tại địa
phương các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó bị cáo là người có nhân thân tốt.
Đối với Bị cáo Trương Sa T, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã
từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, cụ thể: Năm 2018 bị Công an thị xã (nay là thành phố) Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe người khác” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 7627/QĐ-XPHC ngày 26/01/2018. Tuy nhiên đối với lần vi phạm này tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ngày 19/10/2022) đã quá 04 năm. Căn cứ hướng dẫn số 5887/VKSTC-V14 ngày 05/12/2019 của Viện kiểm sát Tối cáo V/v giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015 và thi hành án hình sự giải thích “... Nếu hết thời hạn quy định người bị xử phạt không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt không có bất kỳ biện pháp nào buộc người bị xử phạt phải chấp hành quyết định đó thì không thuộc trường hợp người bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn việc thi hành quyết định…”. Vì vậy hành vi vi phạm hành chính năm 2018 của bị cáo mặc dù bị cáo chưa chấp hành nhưng đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại
phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là:“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án: Đối với bị cáo Trương
Sa T, bị cáo là người rủ rê, lôi kéo các bị cáo khác thực hiện trộm cắp tài sản, đồng thời trực tiếp thực hiện tội phạm một cách tích cực. Do đó bị cáo giữ vai trò chính và cao nhất trong vụ án.
Xét vai trò đồng phạm của bị cáo Triệu Văn V và Lưu Văn T trong vụ án
thấy: Các bị cáo V, T sau khi được bị cáo T rủ rê, lôi kéo các bị cáo đã đồng ý, tích cực thực hiện hành vi phạm tội cùng với bị cáo T. Vì vậy, bị cáo V và T giữ vai trò ngang nhau đứng sau bị cáo T.
. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của các bị cáo khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:
Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Đây là
vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được phát hiện và thu hồi ngay trả lại cho bị hại, quá trình sinh sống tại địa phương các bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên đối chiếu với các quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Văn bản hợp nhất Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì thấy không cần áp dụng hình phạt tù mà cho các bị cáo được hưởng án treo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, răn đe đối với các bị cáo đồng thời thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật.
Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các
bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung:
Tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm
2017 còn quy định: “…5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng…”
Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, xét thấy, các bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Đối với tài sản là 24 cụm màn hình mặt trước điện thoại Samsung A515 và
01 chiếc áo công nhân màu trắng, kẻ sọc, có 01 mũ kèm theo là tài sản của công ty TNHH Daesin, Quá trình điều tra Công ty đã nhận lại tài sản trên nên không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì thêm.
. Về Biện pháp tư pháp:
- Đối với các vật chứng là 24 cụm màn hình mặt trước điện thoại
Samsung A515, mã sản phẩm GH97-24302A; 01 chiếc áo công nhân màu trắng, kẻ sọc, có 01 mũ kèm theo. Hiện đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên trả lại cho chủ sở hữu là Công ty TNHH Daesin quản lý, sử dụng - Xét thấy việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên trả lại những tài sản này cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với: 01 chiếc đĩa DVD, được chuyển theo hồ sơ vụ án - Hội đồng
xét xử xác định đây là vật chứng của vụ án, có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ kèm theo hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, màu trắng, số
IMEI: 359487080999986 do T giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, số IMEI: 356171091749781 do V giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353895103096117 do T giao nộp – Xác định là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, có giá trị sử dụng nên cần hóa giá, sung ngân sách Nhà nước.
. Về chi phí tố tụng: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự
sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho
bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 46,
Điều 47, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu
Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Về hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo Trương Sa T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trương Sa T cho Ủy ban nhân dân phường NT, thành phố PY,
tỉnh TN, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Triệu Văn V 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Triệu Văn V cho Ủy ban nhân dân xã LB, huyện ĐT, tỉnh TN
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lưu Văn T cho Ủy ban nhân dân xã NM, huyện PB, tỉnh T N
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”
2.2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Trương
Sa T, Lưu Văn T và Triệu Văn V.
3. Biện pháp tư pháp:
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án: 01 chiếc đĩa DVD được chuyển theo
hồ sơ vụ án.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn
hiệu Iphone 6s, màu trắng, số IMEI: 359487080999986 do T giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, số IMEI: 356171091749781 do V giao nộp; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 353895103096117 do Trình giao nộp.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố
Phổ Yên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 01/02/2023).
4. Về chi phí tố tụng: Các bị cáo Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn T
mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Trương Sa T, Triệu Văn V và Lưu Văn T
có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo
trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Nhà tạm giữ Công an thành phố Phổ Yên; - Công an TP. Phổ Yên; - Chi cục THADS TP. Phổ Yên; - Bị cáo; Đương sự trong vụ án (nếu có); - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |