- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc A bị truy tố và xét xử về tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂNTHÀNH PHỐ UB TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HS-ST Ngày 24-5-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UB, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Kim Văn Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Thái Quang Định và bà Phạm Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Tố Tâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đỗ Mạnh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 11-5-2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Ngọc A - tên gọi khác: không có; sinh ngày 27-7-1990, tại UB, Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ 4, Khu 6, phường VD, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Tạo và bà Đoàn Thị Vân; vợ, con: chưa có; tiền sự: không có.
Tiền án:
- Ngày 29/8/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 28/8/2020, chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành xong phần dân sự.
- Ngày 23/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 14/9/2022, chấp hành xong hình phạt tù, đã thi hành xong phần dân sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: anh Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ 26, Khu 7, phường Quang Trung, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xét vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Vũ Thị Chiện, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ 8, Khu 1, phường VD, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Nguyễn Quang Trung, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 4, Khu 4, phường VD, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn Trường vắng mặt tại phiên tòa.
2. Chị Bùi Thị Thời vắng mặt tại phiên tòa.
3. Anh Nguyễn Trọng Hoàng vắng mặt tại phiên tòa.
4.Anh Nguyễn Thanh Hải vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2022, Bùi Ngọc A làm thuê phụ xây cho anh Nguyễn Văn Hoàng ở phường VD, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình làm việc, Ngọc Anh thấy việc quản lý các tài sản liên quan đến xây dựng của nhà anh Hoàng ở Tổ 4, khu 4, phường VD, thành phố UB có nhiều sơ hở, cổng khóa có thể mở được, không có người trông coi nên để nảy sinh ý định trộm cắp số tài sản trên của anh Hoàng bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Trong khoảng thời gian từ ngày 17/01/2023 đến ngày 28/01/2023, lợi dụng anh Hoàng về quê ăn tết Nguyên đán, Ngọc Anh đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Hoàng, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 11 giờ ngày 17/01/2023, Ngọc Anh điều khiển xe mô tô Honda Wave đến cổng nhà anh Hoàng thì thấy không có ai trông coi, Ngọc Anh đẩy mạnh cửa lách cổng rồi đi vào khuôn viên đến khu vực nhà kho lấy trộm 1 khung kim loại in chữ TOAN PHAT MECHANICAL.CO.LTD rồi bê ra ngoài cổng để lên xe mô tô, chở đến nhà chị Vũ Thị Chiện (chuyên thu mua sắt vụn) ở tổ 8, khu 1, phường VD, thành phố UB bán cho chị Chiện được 450.000 đồng. Khi bán cho chị Chiến, Ngọc Anh có nói với chị Chiện đây là đồ sắt vụn đem đi bán. Số tiền bán được Ngọc Anh đã ăn tiêu cá nhân hết.
Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 25/01/2023, Ngọc Anh đến nhà chị Chiện mượn xe mô tô biển kiểm soát (BIỂN SỐ) 14T6-4776 gắn xe lôi tự chế 2 bánh phía sau để tiếp tục đến nhà anh Hoàng trộm cắp tài sản. Chị Chiện có hỏi thì Ngọc Anh nói là đi chở sắt công trình nhưng không làm nữa nên mang đến bán cho chị Chiện. Khi đến nhà anh Hoàng, không có ai trông coi nên Ngọc Anh mở cổng đi vào khu vực nhà kho lấy trộm 12 chân giằng giáo, 25 thanh giằng giáo bằng kim loại, 1 lồng giá bằng kim loại sơn đen (bề mặt han rỉ), 1 thanh kim loại màu trắng rồi cho số tài sản trên lên xe lôi chở đến nhà chị Chiện bán cho chị Chiện được 1.100.000 đồng và trả lại chiếc xe trên cho chị Chiện.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Ngọc Anh lại tiếp tục đến nhà chị Chiện mượn chiếc xe mô tô trên đến khu vực nhà anh Hoàng mở cổng đi vào trong lấy trộm 5 chân giằng giáo, 11 thanh kim loại phi 8, 1 thanh kim loại chữ T, 2 thanh kim loại hình chữ L, 3 thanh kim loại hình hộp rồi mang đến bán cho chị Chiện được 550.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán được tài sản trộm cắp, Ngọc Anh đã ăn tiêu cá nhân hết.
Lần 3: Khoảng chiều ngày 26/01/2023, Ngọc Anh tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamha Sirius đi chơi, do không có tiền tiêu nên Hoàng tiếp tục nảy sinh trộm cắp tài sản ở nhà anh Hoàng. Do thấy sân nhà anh Hoàng có 1 chiếc cửa cuốn nặng nên Ngọc điều khiển xe mô tô gặp Nguyễn Văn Trường (sinh năm 1997, bạn Ngọc Anh) ở Tổ 1, Khu 6, phường VD, thành phố UB nhờ Trường khiêng hộ, Trường đồng ý. Ngọc Anh điều khiển xe mô tô đến nhà chị Chiện mượn chiếc xe mô tô gắn xe lôi tự chế, còn xe mô tô Ngọc Anh để Trường điều khiển. Trường đi theo Ngọc Anh và đỗ xe ở cổng nhà anh Hoàng. Ngọc Anh và Trường vào sân khiêng chiếc cửa cuốn lên xe lôi rồi chở đến nhà chị Chiện bán được 660.000 đồng, Ngọc Anh cho Trường 100.000 đồng. Số tiền bán được tài sản trộm cắp, Ngọc Anh đã ăn tiêu cá nhân hết.
Lần 4: Khoảng chiều ngày 27/01/2023, Ngọc Anh gặp chị Bùi Thị Thời (sinh năm 1981, bạn Ngọc Anh) ở khu nhà trọ khu 5B, phường VD, thành phố UB mượn xe mô tô biển số 15M1-012.52 của chị Thời đi chơi. Sau đó, Ngọc Anh điều khiển xe đến đón Trường nhờ Trường đi khiêng đồ hộ, Trường đồng ý. Ngọc tiếp tục đến nhà anh Hoàng lấy trộm 1 chiếc quạt công nghiệp màu đen rồi bê ra ngoài cho lên xe mô tô, Trường ngồi sau bê. Ngọc Anh điều khiển xe đến nhà chị Chiện bán được 120.000 đồng rồi mang xe mô tô trả cho chị Thời. Số tiền bán tài sản trộm cắp, Ngọc Anh đã ăn tiêu cá nhân hết.
Lần 5: Khoảng 18 giờ ngày 28/01/2023, Ngọc Anh tiếp tục đến khu nhà trọ của chị Thời mượn xe mô tô biển số 15M1-012.52 rồi 1 mình đến nhà anh Hoàng trộm cắp 1 máy cắt kim loại có tay cầm, không rõ nhãn hiệu rồi mang đến nhà anh Nguyễn Quang Trung (sinh năm 1968) ở Tổ 3, Khu 4, phường VD, thành phố UB bán được 450.000 đồng. Quá trình mua bán, Ngọc Anh có nói với anh Trung chiếc máy cắt trên do không dùng đến nên bán. Số tiền bán được tài sản trộm cắp, Ngọc Anh đã ăn tiêu cá nhân hết.
Ngày 31/01/2023, anh Nguyễn Văn Hoàng phát hiện tài sản của mình bị mất nên đã đến công an phường VD, thành phố UB trình báo. Cùng ngày, Ngọc Anh đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 6/2/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố UB kết luận:
+ 1 cửa cuốn màu xanh rộng 2,7m, dài 4,1m có giá trị 614.167 đồng.
+ 1 lồng giá bằng kim loại có giá trị 165.000 đồng.
+ 11 thanh kim loại phi 8 có giá trị 73.333 đồng.
+ 1 thanh kim loại hình chữ T có giá trị 27.500 đồng.
+ 1 thanh kim loại màu trắng, bề mặt han gỉ có giá trị 82.500 đồng.
+ 1 thanh kim loại hình hộp có giá trị 36.667 đồng.
+ 2 thanh kim loại hình chữ L có giá trị 27.500 đồng.
+ 1 thanh kim loại hình hộp có giá trị 119.167 đồng.
+ 1 thanh kim loại hình hộp có giá trị 165.000 đồng.
+ 2 chân giàn giáo bằng kim loại kích thước (160x126)cm và 15 chân giàn giáo bằng kim loại kích thước (210x120)cm có giá trị 1.670.083 đồng.
+ 25 thanh giằng bằng kim loại dài 2m có giá trị 252.083 đồng.
+ 1 khung kim loại có gắn in chữ TOAN PHAT MECHANICAL.CO.LTD có giá trị 933.333 đồng.
+ 1 chiếc quạt công nghiệp có giá trị 453.333 đồng.
+ 1 máy cắt không có nhãn hiệu giá trị 453.333 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 5.073.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Ngọc A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Bị hại anh Nguyễn Văn Hoàng có lời khai phù hợp với nội dung vụ án. Trong dịp tết Nguyên đán năm 2023, anh về quê tại Thái Thụy, Thái Bình ăn tết đến ngày 29/01/2023 về nhà tại Tổ 4, Khu 4, phường VD, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh thì phát hiện nhà bị kẻ gian đột nhập, lấy trộm tài sản, qua kiểm tra xem xét thì bị mất 01 lồng giá bằng kim loại; 11 thanh kim loại phi 8; 01 thanh kim loại hình chữ T; 01 thanh kim loại màu trắng; 01 thanh kim loại hình hộp; 02 thanh kim loại hình chữ L; 01 thanh kim loại hình hộp; 01 thanh kim loại hình hộp; 02 chân giàn giáo bằng kim loại; 15 chân giàn giáo bằng kim; 25 thanh giằng bằng kim loại; 01 khung kim loại; 01 chiếc quạt công nghiệp; 01 máy cắt. Sau đó, anh đến cơ quan công an trình báo về sự việc bị trộm cắp tài sản. Anh đã được nhận lại toàn tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Chiện có lời khai: chị không có quan hệ gì với bị cáo. Chị làm nghề thu mua phế liệu, do không biết là tài sản trộm cắp nên đã mua lại của bị cáo và đã nộp lại cho Cơ quan công an thành phố UB. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị toàn bộ tiền đã mua tài sản trộm cắp của bị cáo và chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nữa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quang Trung có lời khai: anh không có quan hệ gì với bị cáo. Anh có mua 01 máy cắt của bị cáo, anh đã nộp lại có cơ quan công an thành thành phố UB. Do tiền mua máy cắt không đáng kể, anh cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
- Người làm chứng Nguyễn Văn Trường, Bùi Thị Thời, Nguyễn Trọng Hoàng, Nguyễn Thanh Hải có lời khai phù hợp với nội dung vụ án. Đối với anh Trường được bị cáo rủ đi khiêng đồ giúp nên anh đi, anh nghĩ rằng số tài sản trên là của bị cáo đi làm để ở đó nên giúp khiêng hộ.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng và đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Ngọc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
* Về hình phạt: xử phạt bị cáo Bùi Ngọc A từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 31-01-2023).
* Về trách nhiệm dân sự: không ai có yêu cầu nên không xem xét.
* Về vật chứng: cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu nên không xem xét.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố UB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội: tại phiên tòa bị cáo Bùi Ngọc A khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng từ ngày 17-01-2023 đến ngày 28-01-2023, tại nhà anh Nguyễn Văn Hoàng ở Tổ 4, Khu 4, phường VD, thành phố UB, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Ngọc A là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự có hành vi cố ý nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp các tài sản của anh Hoàng có tổng giá trị là 5.073.000 đồng để chi tiêu cá nhân.
Bị cáo Bùi Ngọc A có 02 tiền án. Tại Bản án số: 87/2021/HS-ST ngày 23-9-2021 của Tòa án nhân dân thành phố UB, bị cáo Bùi Ngọc A đã bị áp dụng "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, do vậy lần phạm tội này của bị cáo Bùi Ngọc A thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Ngọc A đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố UB đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình cho người dân, nên cần phải xử lý nghiêm.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: hành vi phạm tội của bị cáo có mức hình phạt từ 2 đến 7 năm tù.
Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng: bị cáo có nhân thân xấu, không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (viết tắt là tình tiết giảm nhẹ): bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã "đầu thú"; được "bị hại xin giảm nhẹ hình phạt trách nhiệm hình sự" nên được xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập, tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không ai có yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô BKS 14T6-4776 gắn xe lôi tự chế 2 bánh phía sau, xác định của chị Vũ Thị Chiện, chị Chiện cho Ngọc Anh mượn nhưng không biết Ngọc Anh lấy đi để trộm cắp tài sản, đã trả lại cho chị Chiện nên không đề cập xử lý.
- Đối với 1 cửa cuốn màu xanh rộng 2,7m; 1 lồng giá bằng kim loại; 11 thanh kim loại phi 8; 1 thanh kim loại hình chữ T; 1 thanh kim loại màu trắng, bề mặt han gỉ; 1 thanh kim loại hình hộp; 2 thanh kim loại hình chữ L; 1 thanh kim loại hình hộp; 1 thanh kim loại hình hộp; 2 chân giàn giáo bằng kim loại kích thước (160x126)cm; 15 chân giàn giáo bằng kim loại kích thước (210x120)cm; 25 thanh giằng bằng kim loại dài 2m; 1 khung kim loại có gắn in chữ TOAN PHAT MECHANICAL.CO.LTD; 1 chiếc quạt công nghiệp; 1 máy cắt không có nhãn hiệu, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn Hoàng, đã trả lại cho anh Hoàng nên không đề cập xử lý.
Về tình tiết khác trong vụ án:
Đối với chị Vũ Thị Chiện, anh Nguyễn Quang Trung, Nguyễn Văn Trường không biết việc Ngọc Anh trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc A phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Bùi Ngọc A 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 31-01-2023).
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Bùi Ngọc A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị Chiện, anh Nguyễn Quang Trung vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố UB; - Cơ quan CSĐT, Công an TP. UB; - Nhà tạm giữ Công an TP. UB; - Bị cáo; bị hại; - Cơ quan Thi hành án hình sự TP. UB; - Chi cục THADS thành phố UB; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kim Văn Sơn |