- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyen Thi Ngoc Bich Lua dao chiem doat tai san - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo N uyễn Thị N ọc B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụn hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HS-ST Ngày: 28/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ho n Tu n nh
Thẩm phán:
Ôn N uyễn Văn Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ôn Trươn N ọc Cườn
Ông Lê Văn Lâm
Bà N uyễn Thị Bẩy
- Thư ký phiên tòa: B N uyễn Thị Hồn nh - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông N uyễn Tiến Lập - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm côn khai theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Trun tâm l Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh kết nối với điểm cầu th nh phần tại Trại tạm iam – Công an tỉnh Bắc Ninh vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2023/HSST ngày 14 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:123/2023/QĐXXST-HS ngày 13 thán 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1989; Giới tính: Nữ. Đăn ký hộ khẩu thườn trú: Cụm 11, thôn T, xã H, huyện Đ, th nh phố HN; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn iáo: Khôn ;Trình độ học v n: 12/12; N hề n hiệp: lao độn tự do; Con ông: N uyễn N ọc V, sinh năm 1965; Con bà: N uyễn Thị T1, sinh năm 1967; Có chồn là: N uyễn Hữu H4, sinh năm 1979; và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh 2016;Tiền án, tiền sự: khôn ;
Nhân thân: Tại bản án hình sự số 41/2022/HS-ST ngày 15/3/2022, TAND quận N, th nh phố HN xử phạt 36 thán tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”, thời hạn tù tính từ n y 23/9/2021. Hiện bị cáo đan ch p h nh án tại Trại tạm iam Côn an tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên tòa).
*’Người bào chữa cho bị cáo (theo chỉ định của Tòa án): Luật sư N uyễn Thế U – Văn phòn luật sư T – Đo n Luật sư tỉnh BN (Có mặt)
*,Bị hại:
Chị N uyễn Thị T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện Q, tỉnh BN (Có mặt).
*, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. nh N uyễn Văn Đ, SN: 1981, HKTT: N, thị tr n G, huyện B, tỉnh BN ( Có mặt)
2. Chị Phùn Thị M, SN: 1988, HKTT: Thôn L, xã A, huyện L, tỉnh BN ( Vắn mặt)
3. Chị N uyễn Thị H, SN: 1981, HKTT: ĐB, thị tr n B, huyện B, tỉnh BN( Vắn mặt)
4. Chị Trần Thị T, HKTT: 1989, HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh BN ( Vắn mặt)
5. Chị N uyễn Thị Phúc H2, SN: 1983, HKTT: Thôn C, xã V, huyện U, thành phố HN ( Vắn mặt)
6. Chị Đ m Thị H3, SN: 1971, HKTT: xã L, huyện V, tỉnh HY (Vắn mặt)
7. Chị N uyễn Thị Tr G, SN: 1993, HKTT: thôn C, xã N, huyện Q, tỉnh BN ( Vắn mặt).
8. B N uyễn Thị T1 – sinh năm 1967. Địa chỉ: Cụm 11, thôn T, xã H, huyện Đ, thành phố HN (Có mặt).
9. nh N uyễn Hữu H4, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ dân phố số 4, HT, PC, NTN, th nh phố HN (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có tron hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dun vụ án được tóm tắt như sau:
Khoản thán 2/2020 dịch bệnh Covid-19 bùn phát v diễn biến phức tạp, chị N uyễn Thị T ở thôn N, xã V, huyện Q, tỉnh BN có ý định kinh doanh, buôn bán vật tư y tế. Thôn qua các mối quan hệ xã hội, chị T quen biết N uyễn Thị N ọc B, sau đó B có iới thiệu với chị T: B l n ười chuyên buôn bán khẩu tran , vật tư y tế. Lúc này B đã l m ăn thua lỗ v vay nợ nhiều n ười, vì vậy B thực hiện 02 lần mua bán khẩu tran th nh côn với chị T để tạo lòn tin cho chị T. Sau đó B cun c p cho chị T nhiều thôn tin ian dối như: Báo iá bán khẩu tran th p hơn thực tế; nại ra có các n uồn cun c p khẩu tran , ăn tay và thiết bị y tế để chị T chuyển tiền cho B đặt cọc mua hoặc óp vốn buôn bán. Sau khi chị T chuyển tiền cho B thì B chiếm đoạt. Đến hạn phải trả h n hoặc thanh toán tiền ốc, lãi óp vốn thì B nại ra nhiều lý do khác nhau như h n bị cơ quan chức năn bắt iữ; tiền óp vốn v tiền lãi chưa iải n ân được.... mặc dù lần chuyển tiền trước B chưa thực hiện được n hĩa vụ trả h n hoặc thanh toán trả tiền óp vốn, tiền lãi cho chị T nhưn B nói dối v tạo dựn nhiều hình ảnh, thôn tin thể hiện B sở hữu nhiều t i sản có iá trị, đan tiếp tục thực hiện các thỏa thuận với chị T rồi ửi cho chị T l m cho chị T tin tưởn B có đủ t i sản đảm bảo thanh toán tiền cho chị v vẫn đan thực hiện các n hĩa vụ như đã thỏa thuận. Vì vậy, từ khoản đầu thán 2/2020 đến thán 10/2020 chị T nhiều lần iao tiền mặt, chuyển khoản, nộp tiền tiền mặt v o t i khoản n ân h n Techcombank số 19032949408019 của B thì bị B chiếm đoạt tổn số 2.972.980.000 đồn (Hai tỷ, chín trăm bảy mươi hai triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng), cụ thể như sau;
1. Chiếm đoạt 750.000.000 đồng tiền mua khẩu trang Palmy:
Cùng trong tháng 02/2020, sau 2 lần chị T mua, bán khẩu tran th nh côn với B thì B nói với chị T: B quen biết chị Phạm Thị Lan H - Cán bộ Côn ty cổ phần vận tải đườn sắt H Nội. Chị H có n uồn mua khẩu tran từ miền Nam ra H Nội bán ( chị H cũng là người cung cấp khẩu trang cho B để B bán cho chị T 2 lần trước đó). Ngày 24/02/2020, B nói với chị T: chị H thỏa thuận bán 20 thùn khẩu tran y tế Palmy cho B với iá 10 triệu 500 nghìn đồn /1 thùn (thực tế giá khẩu trang chị H bán cho B trên dưới 20 triệu đồng/1 thùng thể hiện tin nhắn zalo và biên bản giải trình). Do đã 02 lần mua bán khẩu tran th nh côn với B đồn thời th y B báo giá khẩu tran bán th p hơn thị trườn nên chị T tin tưởn , đồn ý mua, B yêu cầu chị T đặt cọc 150 triệu đồn . Chị T đồn ý giao cho B 150 triệu đồn tiền mặt. Sau khi nhận tiền của chị T thì B trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Cùng lúc này, B cũn đã nhận tiền đặt cọc mua khẩu tran y tế của nhiều n ười khác nhưn đã chi tiêu hết nên B tiếp tục nói dối chị T: B có khả năn nhập thêm 100 thùn khẩu tran Palmy, cùn iá 10 triệu 500 nghìn đồn /1 thùn , nếu chị T mua thì đặt cọc cho B 600 triệu đồn , B hứa hẹn trả h n cho chị T vào ngày 27/02/2020, do tin tưởn B nên từ n y 24/02/2020 đến 26/02/2020, chị T thực hiện 11 lần chuyển tiền với tổn số tiền 550 triệu từ t i khoản n ân h n
ribank số 260.920.519.8145 của chị T, 01 lần chuyển trực tiếp 50 triệu đồn tiền mặt, tổn số tiền chị T chuyển v o t i khoản của B 600 triệu đồn . Sau khi nhận được tiền của chị T, B chuyển 252 triệu đồn cho chị H mua 12 thùn khẩu tran trả cho một số khách hàng trước đó B đã nhận tiền đặt cọc; trả nợ cho chị H 30 triệu đồn ; mua 02 thùn khẩu tran với iá 34 triệu 500 n hìn đồn để B tự bán, số tiền còn lại B trả nợ v chi tiêu cá nhân hết. To n bộ 750 triệu đồn chị T chuyển cho B, B khôn mua khẩu tran cho chị T như thỏa thuận. N y 27/02/2020, chị T yêu cầu trả hàng. Tuy không mua 120 thùn khẩu tran cho chị T như thỏa thuận nhưn B nói dối chị T: B đã đặt mua 120 thùn khẩu tran nhưn trên đườn vận chuyển thì 120 thùn khẩu tran đã bị Đội quản lý thị trườn số 4, th nh phố H Nội thu iữ.
Tại Côn văn số 87/QLTT-Đ4, n y 23/8/2022, Đội quản lý thị trườn số 4, Cục Quản lý thị trườn th nh phố H Nội khẳn định: từ ngày 24/02/2020 đến 25/3/2020, Đội quản lý thị trườn số 4 khôn thu iữ lô h n l khẩu tran , vật tư y tế có chủ l N uyễn Thị N ọc B v Phạm Thị Lan H.
Như vậy thôn qua h nh vi ian dối mua khẩu tran Palmy, B đã chiếm đoạt của chị T: 150 triệu đồn +600 triệu đồn = 750 triệu đồn .
2. Chiếm đoạt 440.000.000 đồng tiền mua khẩu trang Masquer:
Khoản tháng 4/2020, B nói dối chị T: B quen biết một n ười tên VA, l m tại Côn ty của Nhật Bản, có chi nhánh ở Việt Nam, Côn ty của VA đan cần mua 40.000 thùn khẩu tran Masquer của Công ty TNHH dược phẩm Oran e do ông N uyễn Văn H l m Giám đốc. B nói B quen biết v đã thỏa thuận với ôn H, ông H đồn ý sản xu t 40.000 thùn khẩu tran xu t bán cho Côn ty Nhật Bản. Mỗi thùng khẩu tran B làm trung gian mua, bán lãi 6 triệu đồn /1 thùn (40.000 thùn sẽ lãi 240 tỷ đồng). Tuy nhiên ông H yêu cầu B phải đặt cọc trước số tiền 1 tỷ 300 triệu đồn vì số lượn h n lớn, cần phải nhập thêm máy móc, vật liệu. Để chị T tin tưởn B nói dối chị T: B được bố mẹ đẻ cho một căn hộ tại khu Royal City, Thanh Xuân, H Nội v B đã thế ch p để vay 1 tỷ 150 triệu đồn còn thiếu 150 triệu đồn , B rủ chị T óp tiền để cùn kinh doanh. Để tăn thêm niềm tin cho chị T, B ửi cho chị T một số hình ảnh thể hiện cuộc họp, cuộc đ m phán B có từ trước nhưn khôn liên quan đến việc mua 40.000 thùn khẩu tran của Côn ty Orange v hình ảnh căn hộ, hình ảnh cổn chun cư Royal City B tải xuốn từ mạn xã hội B hứa hẹn sau khi xu t bán được h n cho Côn ty Nhật Bản, B sẽ chia cho chị T một nửa tiền lãi. Chị T tin tưởn nội dun B nói dối l đún nên đồn ý óp vốn. N y 11/4/2020, chị T chuyển 150 triệu đồn tiền mặt vào tài khoản n ân h n của B. Sau đó, th y chị T khôn n hi n ờ gì, B tiếp tục nói với chị T: Công ty Nhật Bản cần thêm 10.000 thùn khẩu tran loại cho trẻ em của Công ty Orange, B cần thêm 150 triệu đồn để đặt cọc cho ôn H, do đã tin tưởn B nên n y 22/4/2020, chị T tiếp tục chuyển 150 triệu đồng tiền mặt v o t i khoản Ngân h n của B. Sau khi chuyển tiền, chị T nhiều lần hỏi B về việc thanh toán tiền óp vốn, tiền lãi thì B nói dối chị T: tiền đã về t i khoản n ân h n nhưn chưa thể rút được vì bị treo ở Nhật Bản, khi nào hoàn thiện thủ tục mới được nhận tiền. Để tiếp tục ây dựn lòn tin cho chị T, B nói với chị T: B quen biết T2 làm tại n ân h n Techcombank v N l m Kiểm soát viên tại n ân h n
ribank, chi nhánh Mỹ Đình, H Nội (đây đều là tên người do Bích tự nghĩ ra). Bích đan nhờ Tran v Nam hỗ trợ Bích rút tiền về. Sau đó B tự tạo một Zalo đặt tên t i khoản l N uyễn N ọc Bảo T2 rồi tự soạn tin nhắn ửi đến t i khoản Zalo B thườn dùn liên lạc với chị T có nội dun : phía n ân h n có nhận được tiền của B nhưn số tiền lớn nên tiền bị treo, B phải nhờ T2 và N iúp đỡ rút tiền. Sau đó, B chụp ảnh tin nhắn ửi cho chị T để chị T tin tưởn t i khoản của B có tiền. Ngày 29/4/2020, B sử dụn Facebook v o nhóm chỉnh sửa ảnh v nhờ một n ười tron nhóm (B khai khôn nhớ tên t i khoản) iúp B l m iả hình ảnh t i khoản N ân h n của B có số dư 20 tỷ 600 triệu đồn . Sau đó, B ửi hình ảnh nêu trên cho chị T và nói dối: đã được Côn ty Nhật Bản thanh toán một phần tiền mua bán khẩu tran l 20 tỷ 600 triệu đồn . Tuy nhiên, do thủ tục bị vướn mắc nên B vẫn chưa thể rút được tiền, B đã liên hệ với N, N yêu cầu B phải trả 80 triệu đồn để iải quyết nhanh chóng. B nói dối chị T: B đã có 20 triệu đồn , còn thiếu 60 triệu đồn . B yêu cầu chị T chuyển cho B 60 triệu đồn để B chuyển cho N. Do các thôn tin lời nói của B có kèm ảnh minh họa nên chị T tin tưởn và vì muốn có tiền nên n y 29/4/2020 chị T đã iao 60 triệu đồn cho chị dâu của B l chị N uyễn Thị D tại bến xe Gia Lâm, H Nội. Chị D đã chuyển 60 triệu đồn n y cho B. Thời ian tiếp theo chị T nhiều lần thúc iục B thanh toán tiền mua bán khẩu tran thì B kh t lần v nói dối vướn mắc thủ tục tại N ân h n chưa rút được tiền. Tháng 6/2020, do chị T thúc ép thanh toán tiền óp vốn kinh doanh khẩu tran Masquer thì B nói dối chị T: B phải bay san Nhật Bản để l m việc với VA. B đã liên hệ v VA l m thủ tục tháo treo tài khoản Ngân hàng nhưn chi phí l 100 triệu đồn . B nói dối chị T, B đã có 20 triệu đồn , còn thiếu 80 triệu đồn để chuyển cho VA. Do tin tưởn B, n y 22/6/2020, chị T đã chuyển khoản 60 triệu đồn và ngày 23/6/2020, chị T chuyển khoản 20 triệu đồn cho B. Cả 2 lần chị T đều chuyển tiền từ t i khoản n ân h n
ribank của chị T đến t i khoản N ân h n của B. Để củn cố niềm tin cho chị T, B ửi cho chị T hình ảnh chụp xa 01 nữ tiếp viên đan kéo vali ở sân bay kèm tin nhắn: ...giờ lên máy bay.
Tại Côn văn số 05/140422/CV-ORG, ngày 14/4/2022, Công ty Orange xác nhận, khôn ký kết hợp đồn , xu t bán khẩu tran hay nhận được tiền đặt cọc của cá nhân hoặc pháp nhân n o liên quan đến N uyễn Thị N ọc B. Công ty Orange cũn khôn iao dịch, buôn bán 20.000 thùn khẩu tran n ười lớn, 10.000 thùn khẩu tran trẻ em cho b t kỳ Côn ty n o tại Nhật Bản .
Tại Côn văn số 1071/NHNoMĐ-KTKSNB, ngày 05/12/2022, Ngân hàng
ribank, chi nhánh Mỹ Đình xác nhận tại N ân h n
ribank, chi nhánh Mỹ Đình khôn có chức danh Kiểm soát viên chỉ có 01 cán bộ tên N uyễn Th nh N iữ chức vụ Trưởn phòn tín dụn .
Tại Côn văn 19652/ 08-P5, n y 20/9/2022, Cục Quản lý xu t nhập cảnh, Bộ côn an cun c p thôn tin: từ 01/5/2020 đến 01/11/2020, N uyễn Thị N ọc Bí khôn xu t cảnh ra nước n o i.
Đối với n ười tên T2 do B tự n hĩ ra v khôn nói rõ l m ở chi nhánh N ân hàng Techcombank n o vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Côn an tỉnh Bắc Ninh khôn có đủ căn cứ để xác minh;
Như vậy thôn qua h nh vi ian dối óp vốn kinh doanh khẩu tran Masquer, B đã chiếm đoạt được của chị T: ( 150 triệu x2)+60 triệu+80 triệu = 440.000.000 đồn .
3. Chiếm đoạt 279.900.000 đồng tiền cung ứng khẩu trang cho Công ty Sam Sung:
Cũn tron tháng 4/2020, B nói dối chị T: B quen biết một n ười tên V làm tại Côn ty Samsun Display Việt Nam tại Bắc Ninh chuyên phụ trách cun ứn vật tư, thiết bị cho nhân viên và công nhân. V thỏa thuận với B về việc B cung ứn cho Công ty Samsun 500 thùn khẩu tran . B nói với chị T nếu bán được 500 thùn khẩu tran cho Côn ty Samsun thì sẽ lãi khoản 500 triệu đồn . Do thời điểm n y B đan nói dối chị T: B quen biết ôn N uyễn Văn H l Giám đốc Công ty Orange v đan đặt mua khẩu tran Masquer xu t bán san Nhật Bản. Vì vậy, B tiếp tục nói dối chị T: B đã thoả thuận đặt mua thêm 500 thùn khẩu tran của Côn ty Oran e v ôn H đã đồn ý, tuy nhiên phải đặt cọc trước một số tiền để đảm bảo cho sản xu t. B rủ chị T góp vốn, B sẽ chia cho chị T 250 triệu đồn tiền lãi. Để tạo niềm tin cho chị T, B mua một số sim điện thoại rác, hiện tại B khôn nhớ các số thuê bao sau đó lưu tên các sim điện thoại n y v o danh bạ của B l “Ms V Samsung BN”, B l y số điện thoại rác này tự nhắn tin cho B với nội dun thỏa thuận mua khẩu tran của B và iục B giao h n . Sau đó, B chụp m n hình điện thoại ửi cho chị T. Do tin tưởn việc B nói l thật nên chị T đã đồn ý óp tiền mua khẩu tran . N y 16/4/2020, chị T 01 lần chuyển 240 triệu tiền mặt v o t i khoản n ân h n của B; 01 lần chị T sử dụn t i khoản TechcomBnak số 190.3559980.57.01.9 chuyển khoản 39.900.000 đồn v otk của B. Tổn số tiền chị T chuyển khoản v o t i khoản của B 279.900.000 đồn v bị B chiếm đoạt.
Tại Côn văn số 271022/SDV, n y 27/10/2022, Côn ty Samsun xác nhận Côn ty khôn đặt mua khẩu tran của Côn ty Oran e, khôn liên hệ, ký kết hợp đồn , xu t bán khẩu tran hay nhận được tiền đặt cọc của cá nhân hoặc pháp nhân nào liên quan đến N uyễn Thị N ọc B.
Tại Côn văn số 05/140422/CV-ORG, ngày 14/4/2022, Công ty Orange xác nhận, thời điểm thán 4/2020 Côn ty chưa từn iao dịch, trao đổi v sản xu t bán khẩu tran Masquer cho Côn ty Sam Sun Việt Nam tại Bắc Ninh.
Như vậy thôn qua h nh vi ian dối óp vốn mua khẩu tran Masquer bán cho Công ty Sam Sung, B đã chiếm đoạt được của chị T: 279.900.000 đồn .
4. Chiếm đoạt 348.200.000 đồng tiền đáo hạn Ngân hàng:
Xu t phát từ việc B nói dối chị T được bố, mẹ cho căn hộ ở chun cư Royal City nhưn B đã thế ch p vay tiền đầu tư mua khẩu tran Masquer của ông H nên đầu thán 5/2020, B nói dối chị T: cần 350 triệu đồn để đáo hạn khoản vay. Để chị T tin tưởn , B hứa hẹn sau khi đáo hạn n ân h n B sẽ thế ch p căn hộ vào ngân hàng khác vay với hạn mức cao hơn, số tiền vay dư ra B sẽ chuyển trả một phần cho chị T. Sau đó, B tự tạo một t i khoản Zalo có tên “L Lợn”. B sử dụn t i khoản Zalo “L Lợn” tự nhắn tin vào t i khoản Zalo B thườn sử dụn liên lạc với chị T có nội dun : L (l m n ân h n ) đan iải quyết thủ tục đáo hạn cho B, vợ chồn L đan cho B vay tiền để đáo hạn nếu B khôn thanh toán tiền thì n ân h n sẽ thu hồi Gi y chứn nhận quyền sử dụn đ t của B. B chụp lại hình ảnh các tin nhắn trên v ửi cho chị T để chị T tin tưởn l có việc đáo hạn l thật. Do đã tin tưởn B từ trước nên n y 11/5/2020 chị T 3 lần chuyển 200.000.000 đồn từ t i khoản ribank của chị T vào tài khoản N ân h n của B. Sau khi nhận tiền của chị T, B đã sử dụn để chi tiêu cá nhân v trả nợ. Cuối thán 5/2020, B tiếp tục nói dối chị T: B cần thêm 150 triệu đồn nữa mới đủ tiền để đáo hạn n ân h n nên n y 27/5/2020, chị T chuyển 148.200.000 đồn tiền mặt v o t i khoản N ân h n của B thì bị B chiếm đoạt.
Tại Côn văn số 24941/VPĐKĐĐ-TTLT n y 12/12/2022 của Văn phòn đăn ký đ t đai, Sở T i n uyên v môi trườn H Nội xác định: Năm 2020, ia đình B khôn sở hữu căn chun cư n o trên địa b n th nh phố H Nội.
Như vậy thôn qua h nh vi ian dối vay tiền đáo hạn N ân h n , B đã chiếm đoạt được của chị T: 200.000.000 đồn +148.200.000 đồn = 348.200.000 đồn .
5. Chiếm đoạt 113.880.000 đồng tiền mua găng tay y tế của Công ty Khải Hoàn:
Thán 7/2020, biết chị T có nhu cầu mua ăn tay y tế, B nói dối chị T: B có thể mua được 10.000 thùn ăn tay y tế của Côn ty cổ phần VRG Khải Ho n có trụ sở tại tỉnh Bình Dươn , nếu chị T muốn thì B sẽ mua cho chị T, tuy nhiên chị T phải đặt cọc 20 triệu đồn , do tin tưởn B nên chị T đồn ý đặt cọc mua h n . Từ n y 18/7/2020 đến 24/7/2020, 03 lần chị T sử dụn t i khoản ribank, 01 lần sử dụn t i khoản Techcombank của chị T chuyển tiền cho B, tổn số 4 lần chị T chuyển khoản v o t i khoản n ân h n của B là 18.180.000 đồn . Sau khi nhận tiền của chị T thì B sử dụn để chi tiêu cá nhân hết. Khi chị T yêu cầu B giao hàng thì B nói dối chị T: vì số lượn hàng lớn nên B đã nhờ bà N2 l nhân viên kế toán của Côn ty Khải Ho n (do B tự nghĩ ra) bán hộ to n bộ số h n này v được lãi khoản 15 tỷ đồn . Khi n o b N2 chuyển tiền trả cho B thì B sẽ trả lại tiền cho chị T. Đầu thán 8/2020, B nói dối chị T: vẫn đan chờ b N2 thanh toán tiền, nếu khôn được thì B sẽ ặp b N2 iải quyết. N y 04/8/2020, B nói dối chị T: B đã đi máy bay v o tron th nh phố Hồ Chí Minh ặp b N2 (thực tế B vẫn ở nhà tại HN). Sau đó, B lên mạn xã hội tải một số hình ảnh chụp các cọc buộc tiền, túi đựn tiền với số lượn tiền lớn, hình ảnh phòn iao dịch..... B ửi nhữn hình ảnh này cho chị T và nói dối: đã l m việc với b N2 và bà N2 đã ra n ân h n chuyển tiền cho B nhưn do b N2 chuyển sai t i khoản n ân h n của B nên B không nhận được tiền. Lúc này chị T nói sẽ bay vào th nh phố Hồ Chí Minh để cùng B để iải quyết thì B bảo B đặt vé máy bay cho chị T v yêu cầu chị T chuyển cho B 5 triệu 700 nghìn đồn mua vé máy bay. Chị T đồn ý, n y 24/8/2020, chị T sử dụn t i khoản ribank chuyển 5 triệu 700 nghìn đồn v o t i khoản N ân h n của B. Sau khi nhận được tiền của chị T thì B chi tiêu cá nhân hết. Để tránh chị T phát hiện h nh vi ian dối, B nói dối chị T: B khôn đặt được vé máy bay, một mình B có thể iải quyết được sự việc. Để tăn niềm tin cho chị T, B tiếp tục nói dối: B đã liên hệ v nhờ ông H1 là chồng bà N2, ông H1 l quan chức nh nước ( ông H1 cũng do B tự nghĩ ra) iải quyết việc chuyển nhầm tiền. Vì vậy chị T tiếp tục tin B và chỉ yêu cầu B nhanh chón iải quyết l y tiền về. Tháng 9/2020, B nói dối chị T: bà N2, ông H1 có thể tác độn để N ân h n chuyển trả B 15 tỷ đồn , tuy nhiên B phải cho ôn H1 90 triệu đồn , B khôn còn tiền nếu chị T muốn rút tiền nhanh thì chuyển tiền cho B, do tin tưởn B nên n y 14/9/2020, chị T sử dụn t i khoản ribank chuyển 90 triệu đồn v o t i khoản n ân h n của B và bị B chiếm đoạt.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Côn an tỉnh Bắc Ninh ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Côn an tỉnh Bình Dươn l m việc với Côn ty Khải Ho n, kết quả điều tra: Tại Côn ty Khải Ho n, khôn có ai tên là N2 l m kế toán, Côn ty cũn khôn có hợp đồn , thỏa thuận mua bán ăn tay với ai l N uyễn Thị N ọc B.
Như vậy thôn qua h nh vi ian dối mua ăn tay y tế của Côn ty Khải Hoàn, B đã chiếm đoạt được của chị T: 18.180.000 đồn + 5.700.000 đồn 90.000.000 đồn = 113.880.000 đồn .
6. Chiếm đoạt 1.041.000.000 đồng tiền mua khẩu trang y tế của Công ty Mian:
Cùng trong tháng 7/2020, chị T được 07 n ười nhờ mua khẩu tran y tế của Côn ty TNHH sản xu t may mặc – thời tran MI N (Côn ty Mian). Vì chị T vẫn tin tưởn B, nên chị T nhờ B mua khẩu tran của Công ty Mian. Tại thời điểm này B khôn thỏa thuận mua được khẩu tran Mian nhưn do đã đến Côn ty Mian v tìm hiểu t i khoản Facebook của chị Bạch Thị Minh V – Giám đốc Côn ty Mian, B đã nói dối chị T: B quen biết chị V và có khả năn mua cho chị T 1.000 thùn khẩu tran Mian. Nếu mua khẩu tran thì chị T phải đặt cọc cho chị V. Vì vậy, chị T đã nhận tiền đặt cọc của 07 n ười sau: nh N uyễn Văn Đ, đặt cọc 525 triệu đồn ; Chị Phùn Thị M, đặt cọc 40 triệu đồn ; Chị N uyễn Thị H, đặt cọc 462 triệu 500 nghìn đồn ; Chị Trần Thị T, đặt cọc 220 triệu đồn ; Chị N uyễn Thị Phúc H, đặt cọc 550 triệu đồn ; Chị Đ m Thị H, đặt cọc 20 triệu đồn ; Chị N uyễn Thị Tr G, đặt cọc 200 triệu đồn . Tổn số chị T đã nhận tiền cọc của 07 n ười trên l 2.017.500.000 đồn .
Do B yêu cầu chị T đặt cọc số tiền 1 tỷ đồn nên từ 27/7/2020 đến n y 30/7/2020, chị T sử dụn t i khoản ribank 4 lần chuyển khoản, 4 lần trực tiếp chuyển tiền mặt v o t i khoản n ân h n của B với tổn số tiền 1 tỷ đồn . B hứa hẹn: ngày 31/7/2020, B sẽ chuyển trả cho chị T đủ 1.000 thùn khẩu tran Mian. Để chị T khôn n hi n ờ, B l m iả 01 i y viết tay, tron đó B iả danh chị V viết nội dun : chị V đã nhận tiền của B để bán 1.000 thùn khẩu tran v hẹn n y 31/8/2020 sẽ trả h n (thực tế B hẹn chị T là 31/7/2020). Viết xon B chụp ảnh ửi v o t i khoản zalo của chị T, tờ i y nêu trên sau đó B đã hủy đi nên Cơ quan điều tra khôn thu hồi được. Sau khi nhận tiền của chị T, B man đi trả nợ v chi tiêu cá nhân hết. Đến n y hẹn trả h n cho chị T thì B nói dối: Côn ty Mian có nhiều đơn h n nên chưa l m đủ khẩu tran để chuyển trả chị T đồn thời B đưa ra nhiều lý do để trì hoãn trả h n . Sau đó, B lên mạn tìm v o các tran buôn bán h n khẩu tran , các hình ảnh chụp các xưởn sản xu t khẩu tran tải về ửi v o t i khoản zalo của chị T, B nói dối l mẫu khẩu tran của Công ty Mian, Công ty Mian đan nhập thêm máy móc để sản xu t khẩu tran cho chị T. Để củn cố thêm niềm tin của chị T, B sử dụn sim rác, lưu tên v o danh bạ l “vmian” rồi sử dụn điện thoại của B nhắn tin v o số điện thoại trên với nội dun đòi chị V trả h n , trả tiền, sau đó B chụp ảnh m n hình điện thoại ửi v o t i khoản zalo của chị T để chị T tin tưởn l B vẫn đan yêu cầu chị V trả h n . Sau nhiều lần B kh t tiền, kh t h n thì chị T khôn đồn ý cho B kh t nữa mà yêu cầu B trả lại tiền thì B nói dối là B đã bắt nợ được xe ô tô nhãn hiệu Mercedes của V, chiếc xe có iá trị hơn 1 tỷ đồn . Để chị T tin tưởn B lên tran Facebook của chị V, tải ảnh chị V đăn lên mạn đứn cạnh xe ô tô nhãn hiệu Mercedes, biển kiểm soát 30G-346.48 ửi cho chị T. Tiếp theo B nói với chị T: chiếc xe ô tô trên chị V đan thế ch p tại n ân hàng, khôn l m thủ tục bán xe được. B nói dối chị T: B quen biết cán bộ Phòn Cảnh sát hình sự Côn an th nh phố H Nội có thể rút hồ sơ xe của chị V ra nhưn chị T phải trả chi phí rút hồ sơ xe cho B, khi B bán được xe sẽ trả lại tiền chị T đã đặt cọc. Do tin tưởn B, n y 13/10/2020, chị T đã chuyển 41 triệu đồn từ t i khoản ribank của chị T v o t i khoản N ân h n của B v bị B chiếm đoạt.
Xác minh chị Bạch Thị Minh V, sinh năm 1992, HKTT: thôn X, xã T, huyện C, th nh phố HN – Giám đốc Côn ty Mian, chị V khẳn định khôn có thỏa thuận, ký hợp đồn hoặc nhận tiền đặt cọc mua, bán khẩu tran với B. Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mercedes C300, biển số 30G-346.48 là của chị V, chị V đã bán cho n ười khác chứ khôn liên quan ì đến B.
Như vậy thôn qua h nh vi ian dối mua khẩu tran y tế của Côn ty Mian, B đã chiếm đoạt được của chị T: 1.000.000.000 đồn + 41.000.000 đồn = 1.041.000.000 đồn .
Quá trình điều tra,Cơ quan Cảnh sát điều tra Côn an tỉnh Bắc Ninh đã thu iữ của chị N uyễn Thị T 03 bản ốc i y đặt cọc ồm: Gi y đặt cọc tiền, đề n y 24/2/2020; Gi y đặt cọc tiền, đề n y 11/5/2020 và Gi y đặt cọc tiền, đề n y 28/7/2020 đều có nội dun : bên đặt cọc đứn tên chị T; bên nhận đặt cọc man tên B với tổn số tiền cọc l 2.330.000.000 đồn , đây l các i y biên nhận đặt cọc do chị T viết cuối năm 2020 v yêu cầu B ký nhận sau khi chị T phát hiện h nh vi phạm tội của B.
Tại Bản kết luận iám định số 1983/KL-KTHS, n y 09/12/2022 Phòn Kỹ thuật hình sự Côn an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: Chữ viết trên 03 “Gi y đặt cọc tiền” l chữ viết của chị T; Chữ ký, chữ viết đứn tên N uyễn Thị T l của chị T; Chữ ký, chữ viết đứn tên N uyễn Thị N ọc B l chữ ký, chữ viết của N uyễn Thị N ọc B.
Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Côn an tỉnh Bắc Ninh thu iữ được 76 tran 4 in nội dun tin nhắn từ t i khoản zalo “B” của N uyễn Thị N ọc B đến t i khoản zalo của chị T lưu tron máy chị T. Thu iữ 43 tờ 4 in nội dun tin nhắn từ t i khoản zalo “NaBin” của N uyễn Thị N ọc B đến t i khoản zalo của chị H lưu tron máy chị H.
Cho N uyễn Thị N ọc B nhận dạn v chuyển hóa nội dun tin nhắn ửi từ t i khoản zalo của B đến t i khoản zalo chị T. Kết quả B thừa nội to n bộ thôn tin trên 76 tờ 4 l nội dun tin nhắn B lừa dối chị T. Kết quả chị T chuyển hóa các nội dun tin nhắn, N uyễn Thị N ọc B chuyển hóa tin nhắn phù hợp với nhau v có cùn nội dun như đã nêu trên;
Cho N uyễn Thị N ọc B nhận dạn v chuyển hóa nội dun tin nhắn ửi từ t i khoản zalo của B đến t i khoản zalo chị H. Kết quả B thừa nội to n bộ thôn tin trên 43 tờ 4 l nội dun tin nhắn B mua, bán khẩu tran y tế với chị H. Kết quả chị H chuyển hóa các nội dun tin nhắn , N uyễn Thị N ọc B chuyển hóa tin nhắn phù hợp với nhau v có cùn nội dun như đã nêu trên;
Cho Chị T v N uyễn Thị N ọc B diễn iải số liệu các bút toán nhận, chuyển tiền trên t i khoản của B. Kết quả B diễn iải các khoản tiền nhận tiền từ t i khoản của chị T phù hợp với kết quả diễn iải của chị T.
Ngoài 2.972.980.000 đồn N uyễn Thị N ọc B đã lừa đảo chiếm đoạt được của chị T thì chị T còn thỏa thuận cho B vay 186.100.000 đồn . Tổn số tiền chị T giao cho B l 3.159.080.000 đồn . Quá trình kiểm tra, xác minh n uồn tin về tội phạm v điều tra vụ án chị T và B thốn nh t thỏa thuận: Đến thán 01/2021, B đã trả lại cho chị T 467.000.000 đồn v 246 thùn khẩu tran tươn đươn với số tiền 290.000.000 đồn . Tổn số tiền B đã trả cho chị T là 757.000.000 đồn . Chị T yêu cầu B phải trả cho chị T số tiền 2.402.080.000 đồn (bao ồm cả tiền B nợ chị T). Ngày 10/01/2023 bị cáo đã tác độn ia đình thỏa thuận bồi thườn cho chị T 2.220.000.000 đồn ( hai tỷ, hai trăm hai mươi triệu đồng), chị T đã nhận đủ tiền, khôn yêu cầu B phải bồi thườn khoản n o khác v xin iảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cho B;
Đối với 07 n ười thôn qua chị T đặt cọc tiền mua khẩu tran Mian cho B, quá trình điều tra chị T đã trả chị M đủ 40.000.000 đồn . Trả chị H đủ 462.500.000 đồn . Trả chị T đủ 220.000.000 đồn ; Trả chị H2 đủ 20.000.000 đồn . Trả lại chị H3: 260.000.000 đồn và 246 thùn khẩu tran iá trị khoản 290.000.000 đồn , tổn số tiền chị T đã trả đủ cho chị H3: 550.000.000 đồn .Trả anh Đ 330.000.000 đồn ( còn nợ 195.000.000 đồng). Trả chị G 30.000.000 đồn (còn nợ 170.000.000 đồng). Anh D v chị G yêu cầu chị T phải trả số tiền còn nợ.
Với nội dun trên, tại Cáo trạn số 14/CTr-VKS-P2 ngày 13/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố N uyễn Thị N ọc B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo N uyễn Thị N ọc B đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình như nội dun cáo trạn đã nêu. Bị cáo thừa nhận do l m ăn thua lỗ, vay nợ nhiều n ười khôn có tiền trả nên bị cáo đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị N uyễn Thị T, tron khoản thời ian từ thán 02/2020 đến thán 10/2020, bị cáo đã sử dụn hình ảnh, thôn tin trên khôn ian mạn xã hội nhiều lần đưa ra thôn tin ian dối, khôn có thật về việc mua bán khẩu tran , óp vốn sản xu t, kinh doanh khẩu tran với chị T để chiếm đoạt số tiền 2.972.980.000 đồn của chị T. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã tác độn ia đình bồi thườn cho chị T. Bị cáo được biết ia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thườn hết to n bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị T v nay chị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thườn ì thêm. Bị cáo thừa nhận cáo trạn truy tố bị cáo l đún n ười, đún tội, không oan.
Về phía chị N uyễn Thị T thừa nhận nội dun cáo trạn nêu l đún với h nh vi bị cáo B đã thực hiện. Chị T xác nhận lời trình b y của bị cáo tại phiên tòa và cho biết bố mẹ đẻ bị cáo B đã đến xin lỗi v thỏa thuận bồi thườn cho chị số tiền l 2.220.000.000 đồn vì vậy nay chị khôn yêu cầu bị cáo B phải bồi thườn ì thêm cho chị. Về mặt hình phạt, chị T đề n hị Hội đồn xét xử xem xét iảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B.
Đối với số tiền chị T nhận đặt cọc của 07 n ười ồm nh N uyễn Văn Đ; Chị Phùn Thị M; Chị N uyễn Thị H; Chị Trần Thị T; Chị N uyễn Thị Phúc H3; Chị Đ m Thị H2; Chị N uyễn Thị Tr G thì hiện nay chị đã thanh toán ho n trả lại to n bộ cho nhữn n ười n y, nay chị khôn còn nợ ai, chị đã iao nộp biên nhạn trả tiền cho chị G v anh Đ nên chị khôn yêu cầu Tòa án xem xét iải quyết.
Về phía anh N uyễn Hữu H v b N uyễn Thị T1 trình b y cho biết to n bộ số tiền B lừa đảo chiếm đoạt của chị T đều do B sử dụn cá nhân v trả nợ, anh H4 và bà T1 đều khôn biết việc B ian dối để chiếm đoạt tiền của chị T. Sau khi được B nhờ thu xếp bồi thườn cho chị T thì anh H4 v vợ chồn b T1 đã đi vay mượn thu xếp để bồi thườn cho chị T số tiền l 2.220.000.000 đồn , số tiền n y b khôn yêu cầu B phải thu xếp trả b .
Về phía anh N uyễn Văn Đ xác nhận chị T đã thanh toán trả anh to n bo số tiền đặt cọc mua khẩu tran nay anh khôn có yêu cầu ì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực h nh quyền côn tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, iữ n uyên bản Cáo trạn đã truy tố đối với bị cáo Bích. Căn cứ v o h nh vi phạm tội; tính ch t, mức độ n uy hiểm của h nh vi; căn cứ v o nhân thân n ười phạm tội v các tình tiết tăn nặn , iảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề n hị Hội đồn xét xử tuyên bố bị cáo N uyễn Thị N ọc B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”.
Áp dụn điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo N uyễn Thị N ọc B từ 08 năm tù đến 10 năm tù. Tổn hợp với mức hình phạt 36 thán tù tại bản án hình sự số 41/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân quận N, th nh phố HN buộc bị cáo N uyễn Thị N ọc B phải ch p h nh mức hình phạt chun cho cả hai bản án l từ 11 năm tù đến 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ n y 23/9/2021.
Miễn áp dụn hình phạt bổ sun đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Khôn xem xét iải quyết.
Tron phần tranh luận, Luật sư N uyễn Thế U l n ười b o chữa cho bị cáo trình b y quan điểm: Khôn có ý kiến tranh luận ì về tội danh cũn như điều luật m vị đại diện Viện kiểm sát đã đề n hị áp dụn đối với bị cáo, tuy nhiên Luật sư U đề n hị Hội đồn xét xử xem xét lại về số tiền Cáo trạn quy kết bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại vì trước khi bị cáo bị khởi tố thì bị cáo v bị hại đã thốn nh t xác định đến thán 01/2021 bị cáo đã trả lại cho chị T số tiền l 467.000.000đ v 246 thùn khẩu tran tươn đươn với số tiền l 290.000.000 đồn , tổn số tiền bị cáo đã trả cho chị T trước khi khởi tố l 757.000.000đ do đó phải trừ số tiền n y đi thì bị cáo chỉ còn chiếm đoạt của bị hại số tiền l 2.215.980.000 đồn chứ khôn phải 2.972.980.000 đồng. Về các tình tiết iảm nhẹ của bị cáo thì Luật sư U đồn tình với đề n hị của Kiểm sát viên về việc áp dụn điểm b,s khoản 1 v khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo son đề n hị cho bị cáo được mức hình phạt th p hơn mức đề n hị của Kiểm sát viên.
Bị cáo khôn bổ sun v tham ia tranh luận ì với Kiểm sát viên.
Về phía chị N uyễn Thị T tham ia tranh luận cho rằn ý kiến của Luật sư U cho rằn bị cáo chỉ có ý thức chiếm đoạt của chị số tiền 2.215.980.000 đồn l khôn đún m bị cáo B có ý thức chiếm đoạt số tiền của chị như cáo trạn quy kết l phù hợp vì bị cáo đã ian dối đối với chị n ay từ ban đầu, việc bị cáo chuyển trả chị số tiền 467.000.000đ khi khôn đặt mua khẩu tran được cho chị v trả cho chị 246 thùn khẩu tran loại khác chủ yếu chỉ nhằm tạo lòn tin cho chị để sau đó dụ dỗ chị tiếp tục đặt cọc tiền để mua khẩu tran tiếp.
Đối đáp với quan điểm của Luật sư U về số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị T, Kiểm sát viên cho rằn hành vi phạm tội của bị cáo ho n th nh kể từ khi bị cáo đưa ra h nh vi ian rối v bị hại chuyển tiền th nh côn cho bị cáo, việc bị cáo sau đó chuyển trả bị hại 467.000.000đ v 246 thùn khẩu tran chỉ được xem l tình tiết iảm nhẹ khắc phục hậu quả, mặt khác như bị hại v bị cáo đã khai thì việc bị cáo trả lại bị hại 467.000.000đ v 246 thùn khẩu tran chỉ nhằm mục đích tạo lòn tin cho bị hại khi bị hại ọi hỏi nhiều lần đồn thời cũn để tạo lòn tin để tiếp tục dụ dỗ bị hại đặt tiền mua khẩu tran tiếp theo vì vậy Kiểm sát viên vẫn iữ n uyên quan điểm việc quy kết số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại l 2.972.980.000 đồn .
Về phía nhữn n ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan là bà T1, anh H4, anh Đ khôn tham ia đối đáp tranh luận ì thêm m chỉ đề n hị Hội đồn xét xử xem xét ho n cảnh của bị cáo để iảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dun vụ án, căn cứ v o các t i liệu tron hồ sơ vụ án đã được tranh tụn tại phiên tòa, Hội đồn xét xử nhận định như sau:
. Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đún thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụn hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại cùn nhữn n ười tham ia tố tụn khác khôn có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụn , n ười tiến h nh tố tụn nên các quyết định, h nh vi của Cơ quan tiến h nh tố tụn , n ười tiến h nh tố tụn l hợp pháp.
Xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp lời khai của n ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan; n ười l m chứn v các t i liệu khác có tron hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồn xét xử th y có đủ cơ sở khẳn định: Do l m ăn thua lỗ, vay nợ nhiều n ười khôn có tiền trả nên N uyễn Thị N ọc B nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị N uyễn Thị T bằn hình thức 2 lần mua khẩu tran với iá đắt, bán lại cho chị T với iá rẻ, ch p nhận lỗ để tạo lòn tin với chị Thảo. Sau đó tron khoản thời ian từ thán 02/2020 đến thán 10/2020, B sử dụn hình ảnh, thôn tin trên khôn ian mạn xã hội nhiều lần đưa ra thôn tin ian dối, khôn có thật về việc mua bán khẩu tran , óp vốn sản xu t, kinh doanh khẩu tran với chị T v chiếm đoạt 2.972.980.000 đồn (Hai tỷ, chín trăm bảy mươi hai triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng) của chị T.
Tại phiên tòa, Luật sư b o chữa cho bị cáo nêu quan điểm cho rằn Cáo trạn quy kết bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại 2.972.980.000 đồn l chưa phù hợp vì trước khi bị cáo bị khởi tố thì bị cáo v bị hại đã thốn nh t xác định đến thán 01/2021 bị cáo đã trả lại cho chị T số tiền l 467.000.000đ v 246 thùn khẩu tran tươn đươn với số tiền l 290.000.000 đồn , tổn số tiền bị cáo đã trả cho chị T trước khi khởi tố l 757.000.000đ do đó phải trừ số tiền n y đi thì bị cáo chỉ còn chiếm đoạt của bị hại số tiền l 2.215.980.000 đồn . Hội đồn xét xử th y hành vi phạm tội của bị cáo ho n th nh kể từ khi bị cáo đưa ra h nh vi ian rối v bị hại chuyển tiền th nh côn cho bị cáo, việc bị cáo sau đó chuyển trả bị hại 467.000.000đ v 246 thùn khẩu tran chỉ được xem l tình tiết iảm nhẹ khắc phục hậu quả, mặt khác như bị hại v bị cáo đã khai thì việc bị cáo trả lại bị hại 467.000.000đ v 246 thùn khẩu tran chỉ nhằm mục đích tạo lòn tin cho bị hại khi bị hại ọi hỏi nhiều lần đồn thời cũn để tạo lòn tin để tiếp tục dụ dỗ bị hại đặt tiền mua khẩu tran tiếp theo vì vậy việc quy kết về số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị T như Cáo trạn nêu l phù hợp quy định pháp luật. Do đó h nh vi của bị cáo đã c u th nh tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản” tội phạm v hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự đún như Cáo trạn của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố.
Hành vi phạm tội của bị cáo l n uy hiểm cho xã hội. H nh vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về t i sản của n ười khác, khôn nhữn gây hoan man lo lắn tron quần chún nhân dân m còn l m ảnh hưởn , m t lòng tin tron các mối quan hệ xã hội do đó đối với bị cáo xét th y cần phải có một mức hình phạt n hiêm khắc cách ly bị cáo với đời sốn xã hội một thời ian d i mới có tác dụn iáo dục riên v phòn n ừa chun .
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đòng xét xử, thấy:
Về nhân thân, xét th y ngày 15/3/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận N, th nh phố HN xử phạt 36 thán tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”, do hành vi lừa đảo chiếm đoạt t i sản của chị T xảy ra trước thời điểm bị cáo bị Tòa án nhân dân quận N, th nh phố HN xét xử nên bị cáo khôn bị coi l có tiền án xon thể hiện bị cáo có nhân thân x u.
Về tình tiết iảm nhẹ: Quá trình điều tra v tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo th nh khẩn, ăn năn hối cải; đã tác độn ia đình bồi thườn to n bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại v được bị hại đề n hị xin iảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ia đình bên mẹ đẻ bị cáo l ia đình có côn với cách mạn vì vậy bị cáo được hưởn các tình tiết iảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 v khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăn nặn : Bị cáo đã nhiều lần dùn thủ đoạn ian dối để chiếm đoạt t i sản của chị T, mỗi lần chiếm đoạt số tiền đều trên 2 triệu đồn do vậy h nh vi phạm tội của bị cáo thuộc trườn hợp “phạm tội 2 lần trở lên” l tình tiết tăn nặn được quy định tại điểm khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sun : Xét th y bị cáo n hề n hiệp khôn ổn định, không có t i sản riên vì vậy khôn áp dụn hình phạt bổ sun l phạt tiền đối với bị cáo.
. Căn cứ tính ch t, h nh vi phạm tội v các tình tiết tăn nặn , iảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồn xét xử nhận th y cần áp dụn khoản 1 Điều 54 để cho bị cáo được hưởn mức hình phạt dưới mức th p nh t của khun hình phạt được áp dụn cũn đủ điều kiện cải tạo, iáo dục bị cáo th nh côn dân tốt cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, chị T xác nhận đại diện ia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thườn to n bộ số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị vì vậy nay chị T khôn yêu cầu bị cáo phải bồi thườn ì thêm nên Hội đồn xét xử khôn đặt ra xem xét iải quyết.
Đối với số tiền chị T nhận đặt cọc mua khẩu tran của 07 n ười ồm Anh N uyễn Văn Đ; Chị Phùn Thị M; Chị N uyễn Thị H; Chị Trần Thị T; Chị N uyễn Thị Phúc H2; Chị Đ m Thị H3; Chị N uyễn Thị Tr G thì chị T và 07 n ười trên đều xác nhận chị T đã thanh toán ho n trả cho nhữn n ười này nay khôn ai có yêu cầu ì do vậy Hội đồn xét xử cũn khôn đặt ra xem xét iải quyết.
Về án phí: Bị cáo N uyễn Thị N ọc B phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo N uyễn Thị N ọc B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt t i sản”.
Áp dụn điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 v khoản 2 Điều 51; điểm khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: N uyễn Thị N ọc B 09 (chín) năm tù. Tổn hợp với mức hình phạt 36 thán tù tại bản án hình sự số 41/2022/HS-ST ngày 15/3/2022 của Tòa án nhân dân quận N, th nh phố HN buộc bị cáo N uyễn Thị N ọc B phải ch p h nh mức hình phạt chun cho cả hai bản án l 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/9/2021.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụn hình sự; N hị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, iảm, thu, nộp, quản lý v sử dụn án phí v lệ phí Tòa án n y 30/12/2016 của Ủy ban thườn vụ Quốc hội khóa 14.
Bị cáo N uyễn Thị N ọc B phải nộp 200.000 đồn án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo; Bị hại; N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền khán cáo bản án tron hạn 15 n y kể từ n y tuyên án.
N ười có quyền lợi, n hĩa vụ liên quan vắn mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án tron hạn 15 n y kể từ n y được tốn đạt bản án hoặc kể từ n y bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND C p cao; - VKSND tỉnh Bắc Ninh - Phòng PC 10, Trại tạm iam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Cơ quan điều tra (PC01), Côn an tỉnh Bắc Ninh; - Cục thi h nh án dân sự tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo, n ười tham ia tố tụn ; - Lưu HS, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tuấn Anh |