vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Võ Minh L 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/12/2022. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "38. Võ Minh L 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 27 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Anh Tuấn

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Võ Minh L; sinh ngày 14/3/2005, tại Trà Vinh (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 08 tháng 25 ngày); nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Ấp NT, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Võ Thị Ngọc H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2022 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Anh Đào Thanh T, sinh năm 1980; nơi cư trú: 523/41D TTV, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 09/12/2022, anh Đào Thanh T đến chợ BD, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để làm thuê. Khi đến chợ BD, anh T treo một chiếc áo sơ mi ngắn tay, sọc màu trắng xanh trên ghế nhựa tại trước ô vựa D3-009 nhà lồng D, bên trong túi áo có để số tiền 3.022.000đ (ba triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) rồi anh T đi vào vựa D3-009 làm việc. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 09/12/2022, anh T đang làm việc thì thấy Võ Minh L đi đến ngồi cạnh ghế nhựa anh T đang treo áo, rồi sau đó L đứng lên bỏ đi. Anh T nghi ngờ L trộm tiền trong áo sơ mi nên kiểm tra thì phát hiện số tiền trong túi áo đã bị mất. Anh T cùng anh Đỗ Quốc H (làm thuê chung với anh T) đi tìm L.

Khoảng 02 phút sau, anh T và anh H phát hiện L đang đứng trước vựa D3-C606 nhà lồng D (cách vị trí anh Tòng bị mất tiền khoảng 30m) nên giữ L lại. L lấy số tiền 3.022.000đ (ba triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) đã lấy trộm của anh T từ trong chiếc ủng mang bên chân trái của L đưa lại cho anh T. Sau đó, anh T cùng anh H đưa L cùng với số tiền L lấy trộm đến chốt bảo vệ chợ BD rồi trình báo Công an Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết. Công an Phường B, Quận T lập hồ sơ ban đầu chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T thụ lý theo thẩm quyền.

Ngày 10/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Võ Minh L để điều tra về tội “Trộm cắp tài sản”.

Số tiền 3.022.000 đồng bị L chiếm đoạt là tài sản của anh Đào Thanh T, ngày 10/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh T số tiền nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Anh T đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu L bồi thường thiệt hại.

Vật chứng tạm giữ trong vụ án:

- 01 đôi ủng nhựa màu trắng tạm giữ của Võ Minh L dùng cất giấu số tiền trộm cắp;

- 01 (một) cái áo sơ mi sọc ngắn tay (sọc trắng xanh) là tài sản hợp pháp của anh Đào Thanh T, dùng để cất giữ số tiền 3.022.000 đồng. Quá trình điều tra, anh T xác định không có yêu cầu nhận lại tài sản do không còn giá trị sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 23/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Võ Minh L về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Minh L về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 10 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đôi ủng nhựa màu trắng tạm giữ của bị cáo do dùng làm nơi cất giấu số tiền trộm cắp; tịch thu tiêu hủy 01 cái áo sơ mi sọc ngắn tay tạm giữ của anh Đào Thanh T do anh T không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi là người chưa đủ 18 tuổi, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị cử Luật sư làm người bào chữa cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện không yêu cầu Luật sư Chung Ngọc Th (là Luật sư được cử) làm người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa. Xét đây là quyền tự định đoạt của bị cáo, đồng thời, tại thời điểm xét xử bị cáo đã đủ 18 tuổi nên việc bị cáo từ chối luật sư bào chữa không thuộc trường hợp bắt buộc chỉ định người bào chữa, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận và vẫn tiến hành xét xử.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 09/12/2022, tại trước ô vựa D3-009 nhà lồng D Chợ BD, Phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Võ Minh L có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 3.022.000 đồng của anh Đào Thanh T, sau đó bị phát hiện.

Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Võ Minh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại nên thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử áp dụng các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Do bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01 đôi ủng nhựa màu trắng tạm giữ của bị cáo L dùng cất giấu số tiền trộm cắp; 01 cái áo sơ mi sọc ngắn tay (sọc trắng xanh) là tài sản hợp pháp của anh Đào Thanh T, dùng để cất giữ số tiền 3.022.000 đồng, anh T xác định không có yêu cầu nhận lại tài sản do không còn giá trị sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, các điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Võ Minh L 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/12/2022.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) cái áo sơ mi sọc ngắn tay, sọc trắng xanh (đã qua sử dụng).

- 01 (một) đôi ủng nhựa màu trắng (đã qua sử dụng).

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/02/2023).

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Võ Minh L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ