vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Lý H và Đỗ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Lý H 01 (một) năm tù. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Lý H cùng đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Lý H và Đỗ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày: 29-9-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Phong

2. Ông Trần Văn Nhị

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Lý H; (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1989; Nơi sinh: Long An; Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: không; Cha: Trần Văn T, sinh năm 1971; Mẹ: Phạm Thị P, sinh năm 1969; Bị cáo chưa có vợ và con.

Tiền án: Ngày 26/5/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa áp dụng biện pháp đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong vào tháng 01/2020. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Châu Bình – Bộ Công an.

2. Họ và tên: Đỗ Minh T; (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991; Nơi sinh: Long An; Nơi cư trú: Ấp 3, xã T, huyện T , tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 8/12; cha: Đỗ Minh D, sinh năm 1970; mẹ: Hồ Thị Xuân L, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ và con; có 05 anh em lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1996.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 08/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An.

Nhân thân:

Ngày 03/3/2014, cai nghiện tự nguyện tại Trung T chữa bệnh giáo dục lao động xã hội tỉnh Long An, thời gian 06 tháng.

Ngày 06/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Phú Đức, tỉnh Bình Phước.

Bị can hiện đang cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Long An.

(Các bị cáo có mặt)

- Bị hại: Viễn thông LA. Địa chỉ: số 55 đường Trương Định, phường B, thành phố T, tỉnh Long An. Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Ngọc H; chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền cho ông H: Ông Nguyễn Tiến D; chức vụ: Phó giám đốc Trung T viễn thông T. Văn bản ủy quyền ngày 28/9/2023. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị D1, sinh năm: 1971; Địa chỉ thường trú: 12/12 đường Nguyễn Văn Tiếp, khu phố B, thị trấn B, huyện L, tỉnh Long An. Chỗ ở hiện nay: 318 Quốc lộ 1A, khu phố 9, thị trấn L, huyện L, tỉnh Long An. (vắng mặt không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, Trần Lý H rủ Đỗ Minh T đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý. H chuẩn bị 01 xe mô tô gắn biển số 59Y2-556.66 và 01 đèn pin loại đội đầu, T chuẩn bị 01 kìm kim loại dài 70cm làm công cụ, phương tiện để đi trộm cắp tài sản. Vào đêm ngày 19/11/2022 rạng sáng ngày 20/11/2022, H điều khiển xe 59Y2-556.66 chở T đi trên đoạn đường Nguyễn Văn Ngộ thuộc Khu phố 3 Nhà Thương, Thị trấn Thủ Thừa thì H và T phát hiện thấy hệ thống dây cáp viễn thông loại 200x2x0.5 đã bị cắt một đoạn nên H kéo đoạn dây cáp thòng xuống đất. Do sợ bị phát hiện nên H chở T đi về. Sau đó Trần Lý H và Đỗ Minh T đã 02 lần cắt trộm dây cáp viễn thông cụ thể như sau:

Lần 1: Vào rạng sáng ngày 21/11/2022, H điều khiển xe 59Y2-556.66 chở T đến đường Nguyễn Văn Ngộ. Trên đường đi, H nhặt được 01 (một) đoạn cây gỗ dài 3,17 mét (một đầu có gắn móc kim loại). Khi đến vị trí dây cáp viễn thông bị cắt thì H ngồi trên xe cảnh giới. T dùng cây gỗ móc dây cáp xuống gần mặt đất và dùng kìm cắt được một đoạn dài 10 mét. H chở T đem đoạn cáp vừa cắt được đến khu vực ngã ba Đường tỉnh 818 cất giấu. Sau đó, đem đoạn dây cáp đến vựa ve chai tại địa chỉ: 318 Quốc lộ 1, Khu phố 9, Thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An của Bà Lê Thị D1 bán với giá 585.000đ, H chia cho T 300.000đ, H giữ 285.000đ. Số tiền này, H và T đã tiêu xài cá nhân hết.

Lần 2: Khoảng 01 giờ ngày 22/11/2022, H điều khiển xe xe 59Y2-556.66 chở T đến đường Nguyễn Văn Ngộ. Đến vị trí đã cắt trộm cáp viễn thông vào đêm trước thì H dừng xe. T ngồi trên xe để cảnh giới, H đi đến dùng cây gỗ móc dây cáp viễn thông và dùng kìm cắt được 01 đoạn dài 7,85 mét và 01 đoạn dài 2,15 mét. H và T đem hai đoạn cáp vừa cắt trộm được đến khu vực ngã ba Đường tỉnh 818 để cất giấu thì bị lực lượng Công an Thị trấn Thủ Thừa phát hiện lập biên bản.

Tại kết luận định giá tài sản số 1373/KL-ĐGTS ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Thủ Thừa kết luận giá trị của 01 đoạn dây cáp viễn thông loại 200x2x0.5; dài 7,85 mét và 01 đoạn dây cáp viễn thông loại 200x2x0.5; dài 2,15 mét tại thời điểm ngày 22/11/2022 là 1.466.000đ.

Tại kết luận định giá tài sản số 326/KL-ĐGTS ngày 07/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Thủ Thừa kết luận giá trị của 01 đoạn dây cáp viễn thông loại 200x2x0.5, dài 10 mét tại thời điểm ngày 21/11/2022 là 1.469.000đ.

Tại Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 29/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Trần Lý H, Đỗ Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Lý H, Đỗ Minh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong phần luận tội, ông Kiểm Sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Lý H từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Minh T từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Tịch thu tiêu hủy 01 kìm kim loại dài 70cm; 01 đèn pin (loại đội đầu) và 01 đoạn cây gỗ dài 3,17 mét (một đầu có gắn móc kim loại)

Kiến nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa tiếp tục điều tra xác minh xử lý 01 xe mô tô, số khung: RNGKCG2NG81016889 (đã bị cắt, hàn ghép), số máy: VLF1P52FMH-3 70196632, gắn biển số 59Y2-556.66.

Đối với 02 đoạn dây cấp viễn thông loại 200x2x0.5 dài 7,85m và dài 2,15m; Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã trao trả cho bị hại là phù hợp quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 2.935.000đ.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt

Đại diện bị hại không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Hồ sơ vụ án thể hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Bà Lê Thị D1 vắng mặt không rõ lý do nhưng đều đã có lời khai trong quá trình điều tra đồng thời việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về nội dung:

. Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại tại CQĐT và tại phiên tòa, biên bản thu giữ vật chứng, các biên bản định giá tài sản và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Liên tiếp vào các ngày 21/11/2022 và 22/11/2023, tại khu phố 3 Nhà Thương, thị trấn Thủ Thừa, huyện Thủ Thừa, Trần Lý H và Đỗ Minh T có hành vi lén lút chiếm đoạt 20m dây cáp viễn thông loại 200x2x0.5 của Viễn thông LA có tổng trị giá 2.935.000đồng. Do đó hành vi của các bị cáo Trần Lý H và Đỗ Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản"quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi gây ra và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự::

Hành vi trái pháp luật của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý các bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Trong vụ án có 02 người tham gia nhưng không bàn bạc, phân công vai trò cụ thể của từng người nên đây là đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Khi quyết định hình phạt cần xem xét đánh giá cụ thể từng hành vi của mỗi bị cáo để có một mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Lý H là người có nhân thân xấu, đang trong thời gian chờ đưa đi chấp hành án, vào ngày 21/11/2022 và ngày 22/11/2023 bị cáo chủ động rủ bị cáo T tìm kiếm tài sản của người khác bán lấy tiền để tiêu xài cá nhân. H chuẩn bị phương tiện và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý bị cáo H nặng hơn bị cáo T bằng một hình phạt tù nghiêm khắc hơn để giáo dục bị cáo. Khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với bị cáo Đỗ Minh T là người có nhân thân xấu nhưng không nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Vào ngày 21/11/2022 và ngày 22/11/2023 bị cáo cùng thống nhất ý chí với bị cáo H đi tìm tài sản của người khác để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. T dùng kìm kim loại đã mang theo cắt dây cáp viễn thông nhằm chiếm đoạt tài sản Viễn thông LA nên cần có một hình phạt tù để giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.935.000đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường nên HĐXX ghi nhận.

. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa có thu giữ vật chứng gồm: 01 kìm kim loại dài 70cm; 01 đèn pin (loại đội đầu) và 01 đoạn cây gỗ dài 3,17 mét (một đầu có gắn móc kim loại); 01 xe mô tô, số khung: RNGKCG2NG81016889 (đã bị cắt, hàn ghép), số máy: VLF1P52FMH-3 70196632, gắn biển số 59Y2-556.66.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Đối với 01 xe mô tô, số khung: RNGKCG2NG81016889 (đã bị cắt, hàn ghép), số máy: VLF1P52FMH-3 70196632, gắn biển số 59Y2-556.66 chưa tìm được chủ sở hữu nên tiếp tục giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa điều tra xử lý là phù hợp.

. Đối với : 01 kìm kim loại dài 70cm; 01 đèn pin (loại đội đầu) và 01 đoạn cây gỗ dài 3,17 mét (một đầu có gắn móc kim loại) là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

. Đối với 02 đoạn dây cáp viễn thông loại 200x2x0.5 dài 7,85m và dài 2,15m; Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa đã trao trả cho bị hại là phù hợp quy định pháp luật.

. Đối với Bà Lê Thị D1 là người mua dây cáp viễn thông do phạm tội mà có nhưng bà Dụng không biết nên Cơ quan CSĐT công an huyện Thủ Thừa không xử lý hình sự đối với bà Dụng là có cơ sở.

. Hồ sơ vụ án không thể hiện biên bản ghi nhận tình trạng hoạt động của dây cáp viễn thông khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là thiếu xót. Tuy nhiên tại phiên tòa đại diện bị hại và các bị cáo đều xác định trước ngày 21/11/2022, các đoạn cáp viễn thông đã bị cắt đứt ở giữa, không được đấu nối với nhau; một đầu vẫn máng trên cột đầu còn lại rớt thòng xuống mặt đất; các đoạn cáp đã không còn phát truyền tín hiệu điện thoại. Như vậy, hành vi của các bị cáo không xâm hại trực tiếp đến sự an toàn thông tin liên lạc. Do đó Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trần Lý H và Đỗ Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Lý H 01 (một) năm tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt tù tại bản án số 43/2022/HS-ST ngày 26/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày chấp hành bản án số 43/2022/HS-ST ngày 26/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Minh T 09 (chín) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 04/QĐ-TA ngày 08-02-2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa cho Đỗ Minh T kể từ khi bắt thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Trần Lý H và Đỗ Minh T liên đới bồi thường cho bị hại Viễn thông LA số tiền 2.935.000đ.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 kìm kim loại dài 70cm; 01 đèn pin (loại đội đầu) và 01 đoạn cây gỗ dài 3,17 mét (một đầu có gắn móc kim loại). (Vật chứng này do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 20/QĐ-VKS ngày 29/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa).

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc các bị cáo Trần Lý H và Đỗ Minh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

6. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2023); Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ