vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau Tuyên án 21/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Về trách nhiệm hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 21- 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Phi Hùng

Ông Hoàng Xuân Niêm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 2002; nơi sinh: Tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp 18, xã KT, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ; Vợ, con: Chưa có; tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 12/4/2021 Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 tháng, chấp hành xong ngày 21/12/2021; nhân thân: Tại Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản (đang chấp hành án) và 01 tiền sự; Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Cái Tàu; " có mặt"

-Bị hại:

1.Ông Diệp Văn N "vắng mặt"

Địa chỉ: Ấp 3, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

2.Bà Tô Thanh T "vắng mặt"

3.Ông Đoàn Minh L "vắng mặt"

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn B "vắng mặt"

Địa chỉ: Khóm A, phường 1, thành phố Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 26/10/2022 đến ngày 24/11/2022 Nguyễn Văn H thực hiện 04 vụ trộm cắp trên địa bàn huyện Thới Bình, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 26/10/2022 H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68S1-021.22 đến khu vực ấp 3, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau thì phát hiện nhà ông Diệp Văn N mở cửa, không có ai trông coi. H đậu xe bên ngoài lộ và đi vào nhà lấy trộm 02 cái chân đèn và cái lư để trên bàn thờ rồi nhanh chóng ra xe điều khiển về thành phố Cà Mau. H đem tài sản trộm của ông N bán cho ông Lê Văn B là người làm nghề thợ đồng với số tiền 700.000 đồng và tiêu xài cá nhân.

Tại kết luận định giá tài sản số 06/KL-HDĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thới Bình kết luận: 01 cặp chân đèn kim lôaij màu đồng, chiều cao 40cm và 01 cái lư kim loại màu đồng, chiều cao 35cm của ông N bị mất trộm có giá trị là 3.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 11 giờ ngày 29/10/2022 H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68S1-021.22 đi khu vực ấp 3, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau thì phát hiện nhà vợ chồng bà Tô Thanh T, ông Đoàn Minh L mở cửa. H đậu xe ngoài lộ và lội bộ vào nhà lấy trộm 02 cái chân đèn và 01 cái lư hương màu đồng để trên bàn thờ rồi ra xe điều khiển về thành phố Cà Mau. H đem tài sản bán cho ông B được số tiền 2.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân.

Tại kết luận định giá tài sản số 08/KL-HDĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thới Bình kết luận: 01 cặp chân đèn kim loại màu đồng, chiều cao 48cm và 01 cái lư kim loại màu đồng, chiều cao 56cm của bà T bị mất trộm có giá 3.800.000 đồng.

Vụ thứ ba: Vào khoảng hơn 08 giờ ngày 10/11/2022 H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 68S1-021.22 đi đến khu vực ấp 2, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau

2

thì phát hiện nhà bà Nguyễn Thanh H không ai trông coi nên H lén lút vào nhà lấy trộm 02 cái chân đèn đang để trên bàn thờ. H đem tài sản trộm được bán cho tiệm thu mua phế liệu của Từ Văn Đ ở khóm B, phường 7, thành phố Cà Mau bán với giá 400.000 đồng và tiêu xài cá nhân.

Tại kết luận định giá tài sản số 07/KL-HDĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá huyện Thới Bình kết luận: 01 cặp chân đèn kim loại màu đồng, chiều cao 40cm của bà H bị mất trộm có giá 1.200.000 đồng.

Vụ thứ tư: H rủ Nguyễn Ngô Thanh T ở khóm C, phường C, thành phố Cà Mau đi trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và T đồng ý nên vào khoảng 10 giờ ngày 24/11/2022 T điều khiển xe biển kiểm soát 68S1-021.22 chở H đến khu vực ấp 2, xã T B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau thì phát hiện nhà bà Trịnh Thị P không ai trông coi. T dừng xe ngoài lộ, H lén lút vào nhà lấy trộm 02 cái chân đèn màu đồng đang để trên bàn thờ rồi ra chổ T đang đứng đợi thì bị bà P phát hiện tri hô nhưng T và H chạy thoát. Tài sản trộm cắp H tiếp tục đem đến cho Từ Văn Đ với giá 400.000 đồng. H chia cho Trực 200.000 đồng còn lại 200.000 đồng H tiêu xài cá nhân.

Tại kết luận định giá tài sản số 09/KL-HDĐGTS ngày 24/02/2023 của Hội đồng định giá huyện Thới Bình kết luận: 01 cặp chân đèn kim loại màu đồng của bà P bị mất trộm có giá 1.200.000 đồng.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 19/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ y cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội trộm cắp tài sản: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 năm tù tại bản án số 71/2023/HSST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về vật chứng, trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo lấy trộm đã thu hồi và trả lại cho bị hại xong nên bị hại không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.

Đề nghị tịch thu sung công quỹ tiền thu lợi bất chính của bị cáo H.

3

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Vào ngày 26/10/2022 bị cáo có trộm của ông Diệp Văn N 02 cái chân đèn và lư hương màu đồng đem bán được số tiền 700.000 đồng, tài sản trộm cắp được định giá trị là 3.000.000 đồng; vào ngày 29/10/2022 bị cáo trộm của bà Tô Thanh T, ông L 02 cái chân đèn và lư hương màu đồng đem bán được số tiền 2.000.000 đồng, tài sản trộm được định giá trị là 3.800.000 đồng.

[3] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu đã thu thập có tại hồ sơ. Tuy nhiên, Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 19/6/2023 và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung có tính chất chuyên nghiệp là chưa phù hợp. Bởi vì, từ ngày 25/9/2022 đến ngày 24/11/2022 bị cáo H thực hiện 14 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Trong đó, trên địa bàn thành phố Cà Mau bị cáo H thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản (trong đó 01 vụ trộm bị cáo thực hiện vào ngày 25/9/2022 trị giá 950.000 đồng, còn lại 09 vụ trộm bị cáo thực hiện từ ngày 08/11/2022 đến ngày 25/11/2022) và đã bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử tại bản án số 71/2023/HS-ST ngày 18/4/2023 với tình tiết định khung là có tính chất chuyên nghiệp.

4

Đối với 04 vụ trộm cắp tài sản bị cáo H thực hiện trên địa bàn huyện Thới Bình thì có 02 vụ bị cáo H thực hiện vào ngày 26/10/2022 trị giá 3.000.000 đồng và vào ngày 29/10/2022 trị giá 3.800.000 đồng và bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình truy tố tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 19/6/2023 vì trị giá tài sản trên 2.000.000 đồng là có cơ sở. Tuy nhiên với hành vi này không đảm bảo đủ điều kiện thuộc trường hợp có tính chất chuyên nghiệp. Bởi vì, trước khi bị cáo H thực hiện hai vụ trộm ngày 26/10/2022 và ngày 29/10/2022 thì bị cáo H chỉ thực hiện 01 vụ trộm ngày 25/9/2022 trị giá 950.000 đồng trên địa bàn thành phố Cà Mau nên không đảm bảo đủ điều kiện cố ý phạm tội từ năm lần trở lên theo quy định tại điểm a tiểu mục 5.1 mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự. Còn lại 02 vụ trộm cắp tài sản bị cáo H thực hiện trên địa bàn huyện Thới Bình vào ngày 10/11/2022 và ngày 24/11/2022 có định lượng dưới 2.000.000 đồng và bị cáo H chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên bị cáo H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.

Với những chứng cứ, hành vi đã thực hiện và phân tích như trên thì chỉ có đủ cơ sở kết luận bị cáo H phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự với tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vì bản tính tham lam, xem thường pháp luật muốn trộm cắp tài sản của người khác để sử dụng tiêu xài cá nhân và phục vụ cho lợi ích của bản nhân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sỡ hữu của người khác được pháp luật bảo vệ; hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng làm mất an ninh trật tự xã hội nói chung và gây hoang mang lo sợ trong quá trình gìn giữ tài sản ở địa phương nói riêng. Lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo cần bị xử phạt với mức hình phạt thật nghiêm để phòng ngừa chung và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi và trả lại bị hại nên gây thiệt hại không lớn. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[6] Vật chứng tại vụ án: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại bị hại là phù hợp. Đối với chiếc xe biển kiểm soát 68S1-021.22 là tài sản bị cáo dùng vào việc phạm

5

tội nhưng đã được xử lý tại Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nên không xem xét tại vụ án.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nên không xét. Riêng số tiền 2.700.000 đồng bị cáo H bán tài sản trộm cắp mà có là tiền do hưởng lợi bất chính nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước là phù hợp.

[8] Đối với hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 24/11/2022 của Nguyễn Ngô Thanh T có trị giá tài sản dưới 2.000.000 đồng và T chưa có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thới Bình đã xử phạt hành chính là phù hợp. Ông Lê Văn B mua tài sản do bị cáo H phạm tội mà có nhưng khi mua ông B không biết nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Thới Bình không xử lý là phù hợp.

[9] Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự; Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về trách nhiệm hình sự:

Phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt tại Bản án sơ thẩm số 71/2023/HSST ngày 18/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2022.

3. Về vật chứng, trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 2.700.000 đ (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

4. Nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và thi hành án:

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

6

Bản án này là sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Cỡ chữ