vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” .

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 13/01/2023. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điề u 48 Bộ luậ t Hì nh sự ; các Điều 584, 585, 588, 589 Bộ luật dân sự. Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải có trách nhiệm bồi thường cho anh T trị giá chiếc vỏ bình g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” . - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày 26-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phạm Ngọc túy.

- Bà Nguyễn Thị Đoan.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ , tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn Q; tên gọi khác: không; giới tính: Nam;

Sinh ngày 26/3/1982, tại xã A, huyện Qu, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện Qu, tỉnh Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Xuân S, sinh năm 1951, là Thương binh loại A; Mẹ đẻ: Đinh Thị Ng, sinh năm 1952; Vợ: Chị Luân Thị L, đã ly hôn; Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số 266/QĐ-XPHC ngày 04/11/2022, Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng do đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; Nhân thân: Tháng 01/2001 nhập ngũ đến tháng 01/2003 xuất ngũ về địa phương. Bản án số 19/HSST ngày 30/9/2004, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1, Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999, thi hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm tháng 2/2007; đã thỏa thuận thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ bồi thường dân sự; chấp hành xong án phạt tù ngày 29/6/2005. Bản án số 91/HSST ngày 31/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự, thi hành xong án phí hình sự ngày 20/01/2019, chấp hành xong án phạt tù ngày 29/01/2020; Bị bắt tạm giam từ ngày 13/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

-Bị hại: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ X, thị trấn B, huyện Qu, tỉnh Thái Bình.

-Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Tổ X, thị trấn B, huyện Qu, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người làm chứng )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Văn Q là người không có việc làm ổn định, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Do có quen biết nên khoảng 10 giờ ngày 12/12/2022, Q đi xe máy nhãn hiệu Dealin, màu sơn đỏ đen, biển số 17AA-YY1Y1.Y2Y3tới nhà anh Nguyễn Thanh T chơi. Đến nơi thấy cổng, cửa nhà mở nhưng không có người nên Q nảy sinh ý định vào nhà anh Tlục tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu. Q dựng xe máy ở sân đi theo cửa chính vào phòng bếp dùng tay phải tháo khóa van bình gas, xách vỏ bình gas màu xanh, loại bình 20kg (bên trong không có ga) ra phòng khách thấy 01 bao gạo, vỏ bao màu trắng xanh, loại gạo BC, trọng lượng 10kg, ở mặt ghế dài, Q dùng tay trái xách luôn ra sân đặt bao gạo vào bụng chiếc xe máy, vỏ bình gas để lên mặt bao gạo. Lúc này, chị Nguyễn Thị D (hàng xóm nhà anh T) đi làm qua cổng nhà anh Tnhìn thấy hỏi “Mày mang bình gas nhà Tường đi đâu nó không có nhà”. Q nói rối “Cháu mang bình gas xuống Shengly đổi”. Nghe vậy, chị D không hỏi gì nữa tiếp tục đi làm. Q điều khiển xe chở tài sản trộm cắp được đi tìm chỗ tiêu thụ. Trên đường đi do có sử dụng rượu trước đó nên Q bị ngã xe làm cho vỏ bình gas, bao gạo bị rơi, rách vãi gạo ra đường. Tới khu vực cầu Ng, tổ X1, thị trấn B, huyện Qu, Q giao bán vỏ bình gas cho người phụ nữ (không biết tên, địa chỉ) đi thu mua sắt vụn ở đường được số tiền 100.000 đồng sử dụng chi tiêu cá nhân. Bao gạo do chưa tìm người mua nên Q chở về để ở góc nhà. Khoảng 10 giờ 45 phút, anh Tđón con đi học về tới nhà gặp chị D hỏi “Có một người thanh niên vào đổi bình gas nhà em về xem thế nào?”. Anh Tvào nhà kiểm tra tài sản phát hiện bị mất 01 vỏ bình gas ở trong bếp và 01 bao gạo ở mặt ghế dài phòng khách nên đến Công an thị trấn Btrình báo. Nhận nguồn tin Công an thị trấn Bđã triệu tập Q và tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh. Tại đây Q đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản đồng thời giao nộp 01 bao gạo, vỏ bao màu trắng xanh, loại gạo BC, trọng lượng 8,4kg cho Công an thị trấn Bquản lý. Ngày 22/12/2022, Công an thị trấn Bđã chuyển toàn bộ hồ sơ và vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ điều tra, giải quyết theo thẩm Q. Ngày 04/01/2023 Q giao nộp xe máy nhãn hiệu Dealin, màu sơn đỏ đen, biển số 17AA-YY1Y1.Y2Y3cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ.

Kế t luậ n đị nh giá tà i sả n số 01/KL-HDĐGTS ngày 04/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, xác định: “Bao gạo loại gạo BC, trọng lượng 10kg, trị giá 130.000 đồng; 01 vỏ bình gas, loại 20kg, trị giá là 160.000 đồng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 290.000 đồng”.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKSQP ngày 20/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Q đã khai nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại gia đình anh Tvào ngày 12/12/2022 như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Q về tội: “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Q từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 588, Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Q phải bồi thường trị giá vỏ bình 160.000 đồng cho anh T; Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Dealin, biển số 17AA-YY1Y1.Y2Y3. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo có lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 01 bao gạo và 01 vỏ bình gas của gia đình anh T vào ngày 12/12/2022. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát và còn được chứng minh bằng các tài liệu như: Biên bản kiểm tra, xác định và sơ đồ hiện trường vụ án (bản ảnh hiện trường) do Công an thị trấn B lập hồi 12 giờ 30 ngày 12/12/2022; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật tài liệu do Công an thị trấn B, huyện Qulập hồi 15 giờ ngày 13/12/2022; Biên bản xác định trọng lượng bao gạo do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 08 giờ ngày 22/12/2022 cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 12/12/2022, tại nhà anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1985, ở Tổ X, thị trấn B, huyện Qu, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Văn Q có hành vi trộm cắp 01 bao gạo, loại gạo BC, có trọng lượng 10kg và 01 vỏ bình gas màu xanh, loại 20kg, tổng tài sản trị giá 290.000 đồng của anh Nguyễn Thanh T, đã bán vỏ bình gas cho người phụ nữ không quen biết được số tiền 100.000 đồng chi tiêu cá nhân còn bao gạo mang về để ở góc nhà. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự: Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

.............................

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến Q sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân nơi bị cáo phạm tội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, coi thường pháp luật, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và chưa được xóa tiền sự, vì vậy hành vi trộm cắp tài sản ngày 12/12/2022 dưới mức định lượng là tình tiết định tội. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tài sản trộm cắp có giá trị không lớn, có bố đẻ là thương binh loại A, bản thân có thời gian tham gia quân đội, vì vậy cần áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị xử phạt tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”, đây cũng là một trong những căn cứ quan trọng để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình.

Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện tại bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị cáo Q đã trộm cắp 01 bao gạo có trọng lượng 10kg và 01 vỏ bình gas. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an đã quản lý 01 bao gạo trọng lượng còn lại là 8,4kg và trả lại anh T, anh T đã nhận lại và không có yêu cầu về số gạo bị thiếu. Đối với chiếc vỏ bình gas bị cáo Q đã bán cho người phụ nữ không quen biết nên không có cơ sở để thu giữ, xử lý, số tiền 100.000 đồng có được từ việc bán vỏ bình gas bị cáo đã chi tiêu hết. Anh T yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường trị giá vỏ bình gas số tiền 160.000 đồng, vì vậy buộc bị cáo Q phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Tsố tiền là 160.000 đồng là phù hợp với Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Chiếc xe máy nhãn hiệu Dealin, màu sơn đỏ đen, biển số 17AA-YY1Y1.Y2Y3, bị cáo Q sử dụng làm phương tiện chở tài sản chiếm đoạt được đi tiêu thụ là tài sản của Q. Vì vậy cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với bà Đinh Thị Ng là mẹ đẻ bị cáo Q, kết quả điều tra xác định khi thấy Q chở bao gạo về để góc nhà bà Ng có hỏi về nguồn gốc bao gạo thì Q nói là gạo từ thiện. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xử lý đối với bà Ng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Về Q kháng cáo: Bị cáo, bị hại có Q kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” .

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam 13/01/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điề u 48 Bộ luậ t Hì nh sự ; các Điều 584, 585, 588, 589 Bộ luật dân sự. Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải có trách nhiệm bồi thường cho anh T trị giá chiếc vỏ bình gas là 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thỏa thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu để hóa giá nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe máy nhãn hiệu Dealin, màu sơn đỏ đen, biển số 17AA-YY1Y1.Y2Y3. “Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ ngày 21/3/2023 và hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý ”

4.Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về Q kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại có Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ