vanban.org

Bản án 38/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 07/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thanh V 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/4/2023).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vi phạm quy định về giao thông - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HN
TỈNH BĐ
––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HS-ST
Ngày: 07/4/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH BĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Ngọc Tiến

2. Ông Trần Nhật Nguyện

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chánh Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2023/HSST ngày 14/02/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 13/3/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thanh V, sinh ngày 13/4/1988, tại tỉnh BĐ; nơi cư trú: khu phố GH 2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Phạm K, sinh năm 1953; con bà: Châu Thị N, sinh năm 1955; vợ Trần Thị Đức H, sinh năm 1990; con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: không, tiền sự: không, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Đặng Hà Đ(chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Đặng Văng Đ, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu phố CCN, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1975(vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố ĐĐ 3, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 14/11/2022, Phạm Thanh V điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 77C – 126.61 do bà Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 1975, trú tại khu phố ĐĐ 3, phường HT, thị xã HN đứng tên chủ sở hữu, chạy từ phường HT đến xã HH, thị xã HN để giao hàng. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Vàng điều khiển xe đến đoạn đường ĐT 639, thuộc khu phố Thạnh Xuân, phường Hoài Hương, chạy trên phần đường phía Tây, theo hướng Bắc-Nam với tốc độ 30km/h. Vàng nhìn thấy phía trước có một số thanh niên chạy xe từ quán nhậu ở phía Tây ra đường ĐT 639 nên điều khiển xe chạy qua phần đường phía Đông để né tránh và tiếp tục điều khiển xe đi. Lúc này, V nhìn thấy phía trước có xe mô tô biển kiểm soát 77C1-479.93, có dung tích xi lanh 124cc do Đặng Hà Đ, sinh ngày 12/5/2004, không có giấy phép lái xe, có nồng độ cồn trong máu là 271,01 miligam/100mililit máu) điều khiển từ trong đường bê tông ở phía Đông ra đường ĐT 639 và chạy theo hướng Nam - Bắc, đối đầu với xe ôtô. V dậm phanh, đánh lái sang phải để lách tránh nhưng không kịp, nên phần trước bên trái đầu xe ô tô 77C-126.61 tông vào phần trước bên trái đầu xe mô tô 77C1-479.93 gây tai nạn. Hậu quả Đặng Hà Đ bị thương, được đưa đi cấp cứu đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì chết; xe mô tô và xe ô tô hư hỏng.

Tại kết luận giám định pháp y về tử thi số 453/KL-KTHS ngày 22/11/2022 của Phòng k4 thuật hình sự Công an tỉnh BĐ kết luận anh Đặng Hà Đ chết là do gãy trượt liên đốt sống cổ C2-C3/đa chấn thương.

Bản kết luận giám định số 480/KL-KTHS ngày 12/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BĐ kết luận: vị trí vùng va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 77C1-479.93 với xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61 là phần phía Đông của mặt đường ĐT639 thuộc khu phố TX, phường HH, thị xã HN.

Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự HN kết luận: giá trị xe ô tô 77C-126.61 bị thiệt hại là 20.300.000 đồng (Bản kết luận định giá tài sản số 106/HĐĐGTS ngày 15/12/2022), giá trị xe mô tô bị thiệt hại là 28.307.664 đồng (Bản kết luận định giá tài sản số 115/ HĐĐGTS ngày 20/12/2022).

Về xử lý vật chứng:

+ Tạm giữ 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61, đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Lan A.

+ 01 giấy phép lái xe hạng B2, mang tên Phạm Thanh V.

+ 01 xe mô tô biển kiểm soát 77C1-479.93, đã trả lại cho ông Đặng Văn Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị can Phạm Thanh V và bà Nguyễn Thị Lan A đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, ông Đặng Văn Đ không yêu cầu gì khác; bà Anh không yêu cầu gì về thiệt hại của xe ô tô tải 77C-126.61.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 14 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ truy tố bị cáo Phạm Thanh V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thanh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh V mức án từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 36 tháng. Trả lại giấy phép lái xe xe hạng B2, cho bị cáo Phạm Thanh V

Về dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên miễn xét.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, không bào chữa gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã HN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thanh V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định về pháp y và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 14/11/2022, tại đoạn đường ĐT 639 thuộc khu phố Thạnh Xuân, phường Hoài Hương, thị xã Hoài Nhơn, Phạm Thanh V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 77C-126.61 đi không đúng phần đường là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, gây tai nạn làm chết anh Đặng Hà Đ.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được đào tạo lái xe và được cấp bằng lái đúng quy định, lẽ ra bị cáo phải có ý thức nghiêm chỉnh chấp hành luật giao thông đường bộ, nhưng bị cáo bất chấp các quy định, đi không đúng làn đường, gây tai nạn làm chết 01 người, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Do đó, hành vi của bị cáo phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm không những xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của anh Đặng Hà Đô mà còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Trong vụ việc này, bị hại Đặng Hà Đô cũng có một phần lỗi do sử dụng bia rượu, điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa đủ điều kiện dẫn đến tai nạn.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Về nhân thân: Từ trước đến nay bị cáo chưa vi phạm pháp luật nên là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi gây tai nạn bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ rỏ ăn năn hối cải, được gia đình bị hại bãi nại, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự với đất nước, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có công việc ổn định và nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt các quy định của địa phương, do đó không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo Phạm Thanh V được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự là phù hợp.

Ông Đặng Văn Đ không biết Đặng Hà Đ tự ý lấy xe mô tô biển kiểm soát 77C1-479.93 điều khiển đi chơi và xảy ra tai nạn nên không đủ yếu tố cấu thành tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Hình sự.

Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-126.61, là bà Nguyễn Thị Lan A; ông Đặng Văn Đ 01 xe mô tô biển kiểm soát 77C1-479.93, nên HĐXX không xét.

+ Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh V 01 giấy phép lái xe hạng B2, mang tên Phạm Thanh V.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bị cáo Phạm Thanh V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự của BLTTHS năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thanh V 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/4/2023).

2.1 Giao bị cáo Phạm Thanh V cho Ủy ban nhân dân phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Phạm Thanh V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

2.2 Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh V 01 giấy phép lái xe hạng B2, số 520091000294, do Sở Giao thông vận tải tỉnh BĐ cấp ngày 31/12/2013 mang tên Phạm Thanh V

5. Về án phí: Bị cáo Phạm Thanh V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

6.1. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ