- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn D thực hiện hành vi Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HS-ST Ngày: 29-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hữu Bình;
2. Bà Nguyễn Thị Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn D, sinh năm 1985 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã A, huyện DT, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 11/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam (Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng); con ông Lê QD; con bà Trần Thị Lý; bị cáo có 01 anh, 01 chị, 02 em (lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1992); vợ tên Trần TH, sinh năm 1987 (đã ly hôn); bị cáo có 02 người con sinh năm 2010 và năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Huỳnh Y, sinh năm 1987; hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Tạ Anh K, sinh năm 1994; hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã A, huyện DT, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
Ông Lê Văn T1, sinh năm 1963; hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cao su DT1; địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn D, huyện DT, tỉnh Bình Dương. Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Văn H – Chức vụ: Phó Phòng Thanh tra bảo vệ; là người đại diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền số 234/UQ-HĐTVCSDT ngày 22/6/2023). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 31 tháng 5 năm 2022, Nguyễn Huỳnh Y, sinh năm 1987, địa chỉ: Ấp X, xã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương nảy sinh ý định đi trộm mủ cao su bán lấy tiền tiêu xài. Y chuẩn bị 01 thùng nhựa màu vàng, 01 thùng nhựa màu trắng, 01 bao tải, 01 con dao dài khoảng 30cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại để trong cốp xe. Y rủ Nguyễn Thanh Thiên V1, sinh năm 2007 (không xác định được nhân thân, lai lịch) cùng đi trộm mủ cao su. Y điều khiển xe mô tô biển số 61H1-139.32 chở V đến lô cao su số 11, Nông trường cao su AL thuộc Công ty TNHH MTV cao su DT1. Do xe bị thủng bánh sau nên Y dừng xe và lấy 02 thùng nhựa và bao tải xuống lô cao su số 11. Y cầm thùng sơn màu vàng đi qua lô cao su số 4, còn V đi sửa xe. Trước đó, ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1984, địa chỉ: ấp LT, xã LT1, huyện DT, tỉnh Bình Dương là trưởng trạm bảo vệ lô cao su 10A thấy các lô cao su thường xuyên bị mất trộm nên ông T2 phân công Phạm Công T3, sinh năm 1995, địa chỉ: ấp CT, xã TA, huyện DT, tỉnh Bình Dương là bảo vệ trạm Lô cao su số 10A đi kiểm tra tình hình tại các Lô cao su do Trạm lô 10A quản lý. Khi đi kiểm tra, ông T2 phát hiện tại Lô cao su số 11 có 1 thùng nhựa màu trắng nên nghi ngờ có người trộm mủ cao su. Ông T2 gọi điện thoại thông báo cho ông T2 biết. Ông T2 gọi điện thoại cho Lê Văn D là bảo vệ trạm Lô cao su số 10A thông báo có người vào Lô cao số 11, 4 trộm mủ cao su, yêu cầu D đi tìm người trộm mủ cao su. D đồng ý và mang theo 01 gậy ba khúc bằng kim loại dài khoảng 64cm, màu đen bỏ trong T2i quần phải và 01 cây nhựa dài khoảng 60 cm, màu đen. Ông T2 tiếp tục gọi điện thoại cho Tạ Anh K, sinh năm 1994, địa chỉ: ấp HC, xã AL, huyện DT là bảo vệ trạm Lô cao su số 52 thông báo có người vào Lô cao su số 4, 11 trộm mủ cao su nhờ K đến hỗ trợ tìm người trộm mủ cao su thì K đồng ý. Khi đi, K mang theo 01 còng tay số 8 bằng kim loại bỏ trong T2i quần phải và 01 gậy nhựa dài khoảng 60 cm, màu đen.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi sửa xe mô tô xong, Nguyễn Thanh Thiên V1, điều khiển xe mô tô biển số 61H1 – 139.32 quay lại lô cao su số 4 gặp Y đang dùng thùng nhựa màu vàng trộm được 12 kg mủ cao su (loại mủ tạp) thì Y và V thấy có nhiều đèn chiếu sáng trong Lô cao su nên Y và V biết bảo vệ Nông trường cao su AL đang đi tuần tra. Y bỏ thùng nhựa màu vàng đựng mủ cao su trộm được lại, dắt bộ xe mô tô và cùng V đi bộ qua lô cao su số 11. Sau đó, Y điều khiển xe mô tô chở V đi về nhưng không bật đèn chiếu sáng thì K phát hiện nên chạy theo. Y bật đèn chiếu sáng và tăng ga bỏ chạy. Lúc này, K tăng ga đuổi theo. K đuổi kịp Y, yêu cầu Y dừng xe mô tô lại nhưng Y không dừng mà tiếp tục bỏ chạy. K dùng tay trái cầm gậy nhựa đánh 01 cái trúng vào tay phải Y nhưng không gây thương tích. K dùng tay trái cầm gậy nhựa đánh trúng vào vai phải V 01 cái, không gây thương tích. Lúc này, ông T2 phát hiện K đang truy đuổi Y và V nên ông T2 đuổi theo. Khi K và ông T2 truy đuổi Y qua Trường tiểu học An Lập phân hiệu Hố Cạn thì K và ông T2 không đuổi theo nữa mà quay lại Lô cao su số 4. D phát hiện tại Lô cao su số 4 có 01 thùng nhựa màu vàng bên trong có đựng mủ cao su nên D đứng lại canh giữ. Ông T2 đến cùng D canh giữ số mủ cao su bị trộm. Khoảng 05 phút sau, ông T2 và K điều khiển xe mô tô đến địa điểm Tuấn và D đang đứng giữ mủ cao su bị trộm.Tại đây, K kể cho mọi người nghe “lúc này dí nó ra ngoài đường rồi”. Sau đó, T2, Tuấn, K và D ở lại giữ mủ cao su bị mất để thông báo cho Nông trường cao su AL biết.
Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi K không truy đuổi Y và V nữa thì Y dừng xe mô tô tại đoạn đường sỏi đỏ không tên. Lúc này, Y nhớ lại việc giữa Y và K có quen biết nhau từ trước nhưng khi Y trộm mủ cao su và bị truy đuổi thì K lại đánh Y và V nên Y nhặt 01 khúc cây cao su dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 02 cm đưa cho V cầm. Đồng thời, Y mở cốp xe mô tô biển số 61H1 – 139.32 lấy 01 dao dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18 cm cầm trên tay trái chở V quay lại địa điểm Y lấy trộm mủ để chửi K. Khi Y chở V quay lại Lô cao su số 4 thì K nhìn thấy ánh đèn xe mô tô từ xa nên K nói với cả nhóm “nó vô rồi” thì cả nhóm kéo thùng nhựa màu vàng đựng mủ cao su vào sâu bên trong Lô cao su số 4. Lúc này, Y điều khiển xe mô tô đến địa điểm Y đã bỏ thùng nhựa màu vàng. Y dừng xe mô tô trên đường sỏi đỏ, xuống xe, tay cầm dao. V xuống xe cầm khúc cây đứng sau Y. Ông T2 nhìn thấy Y cầm dao và V cầm cây sợ bị V và Y cướp mủ cao su nên ông T2 nói ông T2 cầm khúc cây lên thì ông T2 và ông T2 mỗi người cầm 01 khúc cây cao su dài khoảng 01m đứng tại đây. Lúc này, Y chửi K “mày làm gì ghê vậy, tao lấy mủ mà mày đánh tao, mày qua Thanh Tuyền thì mày chết mẹ với tao”. K nghe Y chửi nên nhặt 1 khúc cây cao su dài khoảng 60 cm ném về phía Y và V nhưng không trúng. K la lên “bắt nó, bắt nó” thì Y lên xe mô tô biển số 61H1 – 139.32 chở V bỏ chạy. Lúc này, K chạy lại lấy xe mô tô biển số 61H1 – 615.64 và nói với D “anh D lên xe đuổi bắt nó lại” thì D ngồi sau xe. K điều khiển xe mô tô đuổi theo Y và V. Khi Y chở V ra đến đường ĐT 748 thuộc ấp HC, xã AL, huyện DTthì V bị rơi điện thoại và tiền nên V nói Y dừng xe. Y dừng xe mô tô biển số 61H1 – 139.32 lại thì K điều khiển xe mô tô biển số 61H1 – 615.64 đến và dừng xe mô tô trên đường sỏi đỏ cách xe mô tô của Y khoảng 08m. D xuống xe mô tô, tay trái cầm gậy nhựa dài khoảng 60 cm và tay phải lấy gậy bằng kim loại cầm lên đi về phía Y và V. Còn K bước xuống xe mô tô biển số 61H1 – 615.64 đi sau D. Lúc này, V xuống xe và cầm khúc cây cao su đi bộ về phía điện thoại và tiền rơi thì Y nhìn thấy K và D đến nên Y cầm dao chạy lại đứng trước V và tiếp tục chửi K. Khi V cúi xuống nhặt tiền và điện thoại thì D nghỉ V và Y dùng cây và dao tấn công về phía D nên D dùng tay phải ném gậy ba khúc bằng kim loại về phía V và Y; đồng thời D cúi xuống để nhằm né khúc cây của V. Cùng lúc này, Y quay mặt từ trái sang phải để chuẩn bị đi lại xe mô tô biển số 61H1 – 139.32 thì gậy ba khúc trúng vào thái dương phải của Y gây thương tích. Y ngồi khụy xuống đường, D chạy lại xô Y ngã xuống đường và dùng đầu gối đè lên lưng làm má trái của Y áp xuống mặt đường nhựa, giật lấy dao trên tay Y và vứt đi. K chạy lại lấy còng tay số 8 trong T2i quần còng hai tay Y lại. Cùng lúc này, V sợ bị đánh nên bỏ chạy bộ về hướng Ủy ban nhân dân xã AĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương. Trên đường, V vứt khúc cây cao su vào lề đường ở đâu không rõ. K nhìn thấy V bỏ chạy nên chạy đuổi theo V khoảng 200m thì không đuổi theo V nữa. K gọi điện thoại cho ông T2 thông báo đã bắt được một người thì ông T2 điều khiển xe mô tô chạy ra. Lúc K quay lại thì nhìn thấy Y đang nằm trên đường ĐT 748, máu chảy nhiều trên thái dương phải nên K và D đỡ Y ngồi dậy. Lúc này, ông T2 nhìn thấy Y chảy máu nhiều nên ông T2 nói mở còng tay thì K mở còng tay cho Y. Sau đó, K và D đưa Y đi cấp cứu và chuyển đến điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
Ngày 19/7/2022, bà Trần Thị L là mẹ ruột của Nguyễn Huỳnh Y làm đơn tố giác gửi Công an xã AL, huyện DT, tỉnh Bình Dương.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 699/CN-BVCR ngày 05/7/2022 của Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh chẩn đoán: Nguyễn Huỳnh Y vỡ vòm sọ, vỡ hở (vết thương sọ não trán phải + khí nội sọ); tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, vết thương thái dương phải khoảng 4 x 2cm, chảy nhiều máu, lộ sọ; tình trạng thương tích lúc ra viện: Bệnh nhân tỉnh, không sốt, vết mổ khô, không yếu liệt chi.
Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 616/2022/GĐPY ngày 06/9/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bình Dương kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương thái dương phải 3x0,2cm, lõm sọ + dập não xuất huyết nhẹ trán phải, đã được phẫu thuật gặm sọ lún, lấy não dập, vết mổ thái dương – trán phải 23x0,4cm, sẹo lành. Di chứng: Khuyết sọ thái dương phải kích thước 5x4cm, đáy phập phồng.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 28% (hai mươi tám phần trăm) theo bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 do Bộ Y tế ban hành về “Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần”.
Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương thái dương phải, lõm sọ + dập não xuất huyết nhẹ trán phải: Chiều nằm ngang, hướng từ phải sang trái, bờ không rõ, khả năng do vật tày gây ra.
Bản Kết luận giám định số 1493/KL-KTHS ngày 24/02/2023 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại màu đen, dài khoảng 64 cm, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 còng số 8 bằng kim loại màu trắng bạc, trên còng có ghi “Bộ công an – E16” là công cụ hỗ trợ.
Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐG ngày 07/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng kết luận: 12 kg mủ cao su, loại mủ chén (mủ tạp), thời điểm bị thiệt hại tài sản là ngày 31/5/2022 có trị giá 120.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã thu giữ vật chứng của vụ án là: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu xanh, loại xe 02 bánh, biển số 61H1 – 139.32; 01 dao dài khoảng 30 cm; cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm; lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18 cm; 12 kg mủ cao su, loại mủ chén (mủ tạp); 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại, màu đen, dài khoảng 64 cm, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 còng số 8 màu trắng bạc, bằng kim loại, trên còng có ghi “Bộ công an – E16 2008”; 01 thùng nhựa màu vàng không nhãn hiệu; 01 thùng nhựa màu trắng không nhãn hiệu; 01 bao tải màu vàng có chữ V803S.
Trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Lê Văn D đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Huỳnh Y số tiền 300.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và làm đơn xin bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 39/CTr-VKSDT ngày 01/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Lê Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:
Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn D từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Đối với 12 kg mủ cao su, loại mủ chén (mủ tạp). Ngày 08/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả cho Công ty TNHH MTV cao su DT1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 11/QĐ-ĐTTH ngày 07/5/2023 là đúng quy định.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu xanh, loại xe 02 bánh, biển số 61H1 – 139.32 do ông Lê Văn T1 là chủ sở hữu hợp pháp. Ông T1 không biết Y mượn xe đi trộm cắp tài sản nên đề nghị tuyên trả cho ông T1.
Đối với 01 dao dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18 cm; 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại, màu đen, dài khoảng 64 cm, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 còng số 8 màu trắng bạc, bằng kim loại, trên còng có ghi “Bộ công an – E16 2008”; 01 thùng nhựa màu vàng không nhãn hiệu; 01 thùng nhựa màu trắng không nhãn hiệu; 01 bao tải màu vàng có chữ V803S. Xét thấy, đây là tang vật của vụ án nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi dùng tay trái cầm gậy nhựa đánh trúng vào vai phải Nguyễn Thanh Thiên V1 01 cái của Tạ Anh K. Xét thấy, Nguyễn Thanh Thiên V1 không có thương tích nên hành vi của Tạ Anh K chưa đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi dùng còng số 8 (là công cụ hỗ trợ) còng tay Nguyễn Huỳnh Y của Tạ Anh K. K chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ nên hành vi của K không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự. Ngày 25/5/2023, Công an huyện Dầu Tiếng đã ban hành Tờ trình số 105/TTr-CAH-ĐTTH đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng xử lý hành chính đối Tạ Anh K về hành vi Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và hành vi Tàng trữ công cụ hỗ trợ là đúng quy định.
Đối với hành vi của Tạ Anh K không đồng phạm với Lê Văn D tội Cố ý gây thương tích cho Nguyễn Huỳnh Y vì: Mục đích K và D đuổi theo Y nhằm giữ Y lại để làm rõ hành vi Trộm cắp mủ cao su của Y. K mang theo cây gậy nhựa và còng số 8 nhằm mục đích để tự vệ, không nhằm mục đích gây thương tích cho ai; mặt khác, thương tích của Y là do D ném cây gậy ba khúc trúng thái dương của Y, K không có hành vi nào nhằm gây thương tích cho Y.
Đối với hành vi của Lê Văn D dùng gậy ba khúc ném trúng thái dương phải gây thương tích với tỷ lệ 28% cho Nguyễn Huỳnh Y. D sử dụng gậy ba khúc là công cụ hỗ trợ. D chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ nên hành vi của D không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi của Nguyễn Huỳnh Y lén lút chiếm đoạt 12 kg mủ cao su (loại mủ chén, tạp) có giá trị là 120.000 đồng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 25/5/2023, Công an huyện Dầu Tiếng ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76/QĐ-XPHC đối với Y là đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Qua sự việc xảy ra, bị cáo biết hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Quá trình tố tụng và tại đơn vắng mặt ngày 09/6/2023, bị hại Y có ý kiến: Bị hại đã được bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình tố tụng và tại đơn yêu cầu vắng mặt ngày 22/6/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông T1 có ý kiến: Ông T1 là chủ sở hữu đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu xanh, loại xe 02 bánh, biển số 61H1 – 139.32. Ông T1 không biết việc Y mượn xe để đi trộm cắp tài sản nên ông T1 đề nghị được nhận lại xe nêu trên.
Tại phiên tòa, ông Vũ Văn H là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV Cao su DT1 có ý kiến: Công ty TNHH MTV cao su DT1 đã nhận lại 12kg mủ sao su. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông K có ý kiến: Ông K là công nhân của Nông trường cao su AL thuộc Công ty TNHH MTV cao su DT1. Ông K và bị cáo D đuổi theo bị hại Y là để làm rõ hành vi Trộm cắp mủ cao su của Y, không nhằm mục đích gây thương tích. Việc bị cáo D gây thương tích cho bị hại Y thì ông K hoàn toàn bất ngờ. Đối với hành vi dùng còng số 8 (là công cụ hỗ trợ) còng tay Nguyễn Huỳnh Y và hành vi đánh vào tay của V, ông K đã bị Ủy ban nhân dân huyện Dầu Tiếng xử lý hành chính với tổng số tiền 14.000.000 đồng và đã nộp phạt xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng và Điều tra viên, Cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị hại Nguyễn Huỳnh Y cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê Văn T1 vắng mặt và đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Lời khai của những người vắng mặt tại phiên toà đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, không ảnh hưởng đến nội dung vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại Ấp H, xã A, huyện DT, tỉnh Bình Dương, Lê Văn D dùng tay phải ném 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại màu đen, dài khoảng 64 cm, tay cầm bằng nhựa màu đen là hung khí nguy hiểm trúng vào thái dương phải của bị hại Nguyễn Huỳnh Y và gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 28% (theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 616/2022/GĐPY ngày 06/9/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bình Dương). Lời khai nhận của bị cáo Lê Văn D tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Cáo trạng số 39/CT-VKSDT ngày 01/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng truy tố đối với bị cáo Lê Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng định pháp luật.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức để biết hành vi gây thương tích đối với người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Điều đó thể hiện sự xem thường pháp luật của bị cáo, làm ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo biết rõ, sức khỏe của con người là vốn quý giá nhất được pháp luật bảo vệ nhưng đã xâm phạm, gây thương tích đối với bị hại Nguyễn Huỳnh Y. Bị cáo đã dùng hung khí là 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại màu đen, dài khoảng 64 cm, tay cầm bằng nhựa màu đen, là hung khí nguy hiểm để gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 28% đối với bị hại theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 616/2022/GĐPY ngày 06/9/2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Bình Dương. Mặc dù bị cáo dùng hung khí nguy hiểm để tác động vào vùng đầu (vùng trọng yếu của cơ thể) bị hại, tuy nhiên hành vi của bị cáo là nhất thời bột phát, không mang tính chất quyết liệt, không nhằm mục đích tước đoạt đi mạng sống của bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội xâm phạm về tính mạng, sức khỏe con người trên địa bàn huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử lý bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc để tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 300.000.000 đồng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi gây thương tích, bị cáo đã đưa bị hại đi cấp cứu; bị cáo có cha là ông Lê QD được tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tặng Bằng khen; trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Đoàn Đặc công 429 Binh chủng đặc công, bị cáo được tặng thưởng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và danh hiệu 3 đỉnh cao quyết thắng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự, được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giảm quyết.
Xét ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV cao su DT1 và anh Tạ Anh K tại phiên toà là phù hợp nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Đối với 12 kg mủ cao su, loại mủ chén (mủ tạp). Ngày 08/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trao trả lại cho Công ty TNHH MTV cao su DT1 theo quyết định xử lý vật chứng số 11/QĐ-ĐTTH ngày 07/5/2023 là đúng quy định của pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu xanh, loại xe 02 bánh, màu sơn xanh, số loại C110, dung tích 108, biển số 61H1 – 139.32, số khung VFCPCHOA2YF004702, số máy 1P50FMHY0258103 do ông Lê Văn T1, sinh năm 1963, địa chỉ: Ấp X, xã TT, huyện DT, tỉnh Bình Dương là chủ sở hữu hợp pháp. Ông T1 không biết bị hại Y mượn xe đi trộm cắp tài sản nên trả lại cho ông T1.
Đối với 01 dao dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18 cm; 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại, màu đen, dài khoảng 64 cm, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 còng số 8 màu trắng bạc, bằng kim loại, trên còng có ghi “Bộ công an – E16 2008”; 01 thùng nhựa màu vàng không nhãn hiệu; 01 thùng nhựa màu trắng không nhãn hiệu; 01 bao tải màu vàng có chữ V803S. Đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với hành vi dùng tay trái cầm gậy nhựa đánh 01 cái trúng vào vai phải của Nguyễn Thanh Thiên V1 của Tạ Anh K. Quá trình điều tra xác định được Nguyễn Thanh Thiên V1 không có thương tích, không yêu cầu xử lý hành vi trên nên hành vi của Tạ Anh K chưa đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi dùng còng số 8 (là công cụ hỗ trợ) còng tay Nguyễn Huỳnh Y của Tạ Anh K. K chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ nên hành vi của K không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự. Ngày 25/5/2023, Công an huyện Dầu Tiếng đã ban hành Tờ trình số 105/TTr-CAH-ĐTTH đề nghị UBND huyện Dầu Tiếng xử lý hành chính đối Tạ Anh K. Ngày 30/5/2023, UBND huyện Dầu Tiếng có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội số 1089/QĐ-XPVPHC, theo đó đã xử phạt Tạ Anh K với tổng số tiền 14.000.000 đồng là đúng quy định.
Đối với hành vi của Tạ Anh K không đồng phạm với Lê Văn D về hánh vi Cố ý gây thương tích cho Nguyễn Huỳnh Y, bởi lẽ: Mục đích K và D đuổi theo để làm rõ hành vi lấy trộm mủ cao su của Y. K mang theo cây gậy nhựa và còng số 8 nhằm mục đích để tự vệ, không nhằm mục đích gây thương tích cho ai; mặt khác, thương tích của Y là do D ném cây gậy ba khúc trúng thái dương của Y, K không có hành vi nào tác động để nhằm gây thương tích cho Y.
Đối với hành vi của bị cáo Lê Văn D dùng gậy ba khúc ném trúng thái dương phải gây thương tích 28% cho Nguyễn Huỳnh Y. Bị cáo sử dụng gậy ba khúc là công cụ hỗ trợ, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về hành vi tàng trữ công cụ hỗ trợ nên hành vi không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự mà bị xét xử về hành vi Cố ý gây thương tích. Đối với việc bị cáo Lê Văn D tàng trữ công cụ hỗ trước thời điểm gây thương tích cho bị hại (trước ngày 31/5/2022) nhưng chưa bị xử lý, vì vậy đề nghị Công an huyện Dầu Tiếng xử lý hành vi trên của bị cáo D theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Nguyễn Huỳnh Y lén lút chiếm đoạt 12 kg mủ cao su (loại mủ chén, tạp) có giá trị là 120.000 đồng của Công ty TNHH MTV Cao su DT1. Y chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 25/5/2023, Công an huyện Dầu Tiếng ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76/QĐ-XPHC với số tiền 2.500.000 đồng là đúng quy định.
Đối với hành vi của Nguyễn Thanh Thiên V1 cùng Nguyễn Huỳnh Y lén lút chiếm đoạt 12 kg mủ cao su (loại mủ chén, tạp) có giá trị là 120.000 đồng của Công ty TNHH MTV Cao su DT1. Quá trình tố tụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng có tiến hành lấy lời khai đối với V, V khai có nơi cư trú tại ấp Rạch Bắp, xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, tại Biên bản xác minh ngày 10/4/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng với Công an xã An Tây, thị xã Bến Cát xác định được: Nguyễn Thanh Thiên V1, sinh năm 2007 cùng mẹ là Lê Thị Hạnh, sinh năm 1988 không sinh sống, không đăng ký thường trú hay tạm trú tại xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương cần tiếp tục điều tra, xác minh về nhân thân, lai lịch, thực hiện trích lục tiền án, tiền sự của Nguyễn Thanh Thiên V1 để có căn cứ tiến hành xử lý hành vi chiếm đoạt 12 kg mủ cao su có giá trị là 120.000 đồng của Công ty TNHH MTV Cao su DT1 theo quy định của pháp luật.
Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố, mức hình phạt đối với bị cáo và biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 299; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 46, Điều 47; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) tính từ ngày tuyên án (ngày 29/6/2023).
Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân xã AL, huyện DT, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Văn D cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lê Văn D phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo Lê Văn D phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
2. Trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Trả lại cho ông Lê Văn T1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave @ màu xanh, loại xe 02 bánh, màu sơn xanh, số loại C110, dung tích 108, biển số 61H1 – 139.32, số khung VFCPCHOA2YF004702, số máy 1P50FMHY0258103.
3.2. Tịch thu, tiêu huỷ đối với: 01 dao dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ dài khoảng 12 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 18 cm; 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại, màu đen, dài khoảng 64 cm, tay cầm bằng nhựa màu đen; 01 còng số 8 màu trắng bạc, bằng kim loại, trên còng có ghi “Bộ công an – E16 2008”; 01 thùng nhựa màu vàng không nhãn hiệu; 01 thùng nhựa màu trắng không nhãn hiệu; 01 bao tải màu vàng có chữ V803S.
Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng.
4. Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn D phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
5.1. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 29/6/2023).
5.2. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV06 - CA tỉnh Bình Dương; - Cơ quan CSĐT - CA H. Dầu Tiếng; - Chi cục THA DS H. Dầu Tiếng; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - UBND xã AL, huyện DT; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |