vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Công D.

[1].Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Quách Công D được ly hôn với bà Trần Thị Đ. [2].Về con chung: Giao cho ông Quách Công D trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Doanh, sinh ngày 11/01/2016, bà Trần Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Dũng, sinh ngày 19/01/2010. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Công D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/6/2023
V/v: “Tranh chấp về ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thị Lương Oanh, ông Nguyễn Mạnh Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Bửu Trân -Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 44/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/3/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXX-ST ngày 02/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Quách Công D, sinh năm 1979; Địa chỉ: tổ 1, khu phố Phú Xuân, phường B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt)

- Bị đơn: bà Trần Thị Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: tổ 1, khu phố Phú Xuân, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Quách Công D trình bày:

Vợ chồng ông D, bà Đ tự nguyện tìm hiểu chung sống với nhau từ năm 2009 và có đăng ký kết hôn tại xã An Bình, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình vào ngày 08/4/2009.

Thời gian đầu thì vợ chồng ông D sống hạnh phúc nhưng gần đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng thường xuyên cãi vã, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại và anh em bạn bè hàn gắn nhưng không được. Bà Đ đã bỏ nhà đi từ tháng 6/2022 đến nay không về. Nay ông D thấy tình yêu của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu tiếp tục cảnh sống chung như thế này thì càng làm khổ đau cho nhau và các con nên ông D yêu cầu ly hôn với bà Đ.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông D, bà Đ có 02 con chung tên Quách Công Dũng, sinh ngày 19/01/2010 và Quách Công Doanh, sinh ngày 11/01/2016. Khi ly hôn ông D yêu cầu nuôi con Quách Công Doanh, còn bà Đ nuôi con Quách Công Dũng.

Về cấp dưỡng nuôi con: ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 09/3/2023 và tại Đơn xin vắng mặt bà Trần Thị Đ trình bày: Bà Đ và Quách Công D tự nguyện tìm hiểu chung sống với nhau từ năm 2009 có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã An Bình, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình vào ngày 08/4/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn và các mâu thuẫn xảy ra ngày càng nhiều và đến tháng 6 năm 2022 thì bà Đ bỏ nhà đi cho đến nay. Nay, ông D làm đơn yêu cầu ly hôn thì bà Đ đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đ, ông D có 02 con chung tên Quách Công Dũng, sinh ngày 19/01/2010 và Quách Công Doanh, sinh ngày 11/01/2016. Khi ly hôn ông D nuôi con Quách Công Doanh, còn bà Đ nuôi con Quách Công Dũng.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến:

* Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; các đương sự chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc giao nộp chứng cứ.

- Nguyên đơn, bị đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 21, 28, 35, 39 ,147, 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Quách Công D, cho ông D được ly hôn với bà Đ.

- Về con chung: giao cho ông Quách Công D trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Doanh, sinh ngày 11/01/2016, còn bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Dũng, sinh ngày 19/01/2010.

- Về cấp dưỡng: ông D, bà Đ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: ông D, bà Đ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm: ông D phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn, con chung” do ông Quách Công D khởi kiện. Bị đơn bà Trần Thị Đ hiện đang cư trú tại khu phố Phú Xuân, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: ông D, bà Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông D, bà Đ tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và về chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã An Bình, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình vào ngày 08/4/2009. Căn cứ điều 8 và điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét tình trạng hôn nhân của ông D, bà Đ: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông D, bà Đ có ý kiến trong quá trình chung sống thì vợ chồng ông D, bà Đ xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại và anh em bạn bè hàn gắn nhưng không được. Bà Đ đã bỏ nhà đi từ tháng 6/2022 đến nay không về. Ông D nộp đơn đến Tòa án xin ly hôn, trong quá trình giải, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm, quay về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng đến nay ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà Đ. Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và cùng có trách nhiệm chung với gia đình, nhưng trong cuộc sống chung của ông D, bà Đ có những mâu thuẫn trong gia đình và trong quá trình giải quyết ông D, bà Đ cũng không có thiện chí hòa giải đoàn tụ gia đình nên xét thấy tình cảm của ông D, bà Đ không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể tiếp tục kéo dài vì mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D cho ông D được ly hôn với bà Đ.

[3.2].Về con chung: Quá trình chung sống ông D, bà Đ có 02 con chung tên Quách Công Dũng, sinh ngày 19/01/2010 và Quách Công Doanh, sinh ngày 11/01/2016. Khi vợ chồng ly thân thì cháu Doanh vẫn ở chung với ông D và cháu Dũng ở với bà Đ và cháu Dũng có nguyện vọng xin ở với mẹ. Tại bản ý kiến gửi đến Tòa án ông D và bà Đ cũng có nguyện vọng khi ly hôn thì ông D nuôi con Quách Công Doanh, còn bà Đ nuôi con Quách Công Dũng.

Xét thấy cháu Dũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ, nguyện vọng của các cháu phù hợp với yêu cầu của bà Đ. Vì vậy để đảm bảo cho các cháu có cuộc sống ổn định, cần được sự chăm sóc của cha mẹ nên giao cho ông Quách Công D trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Doanh, sinh ngày 11/01/2016, còn bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Dũng, sinh ngày 19/01/2010.

[4]Về cấp dưỡng nuôi con: ông D, bà Đ không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5].Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Ông D, bà Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6].Án phí sơ thẩm: Ông D phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Công D.

[1].Về hôn nhân: Chấp nhận cho ông Quách Công D được ly hôn với bà Trần Thị Đ.

[2].Về con chung: Giao cho ông Quách Công D trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Doanh, sinh ngày 11/01/2016, bà Trần Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng con Quách Công Dũng, sinh ngày 19/01/2010.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

[3].Về cấp dưỡng nuôi con: ông D, bà Đ không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4].Về tài sản chung, nợ chung và cho vay chung: Ông D, bà Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5].Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông D phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004783 ngày 07/3/2023 của Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài.

[5]. Quyền kháng cáo: Ông D, bà Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ