vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kiều P.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều P được ly hôn với anh Đoàn Bá H. Về nuôi con chung: Giao cho anh Đoàn Bá H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Đoàn Long G, sinh ngày 26/11/2012 và Đoàn Gia N, sinh ngày 07/11/2014; khi các cháu G và N chưa thành niên hoặc đã thành niên mấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly Hôn _Trần Thị Kiều P và Đoàn Bá H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kiều P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 01 - 12 - 2023
“V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đồng Ánh Đông

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Kia.

2. Ông Trần Văn Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.

Ngày 01 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 167/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/9/2023 “Về việc tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/11/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kiều P, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn 6, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đoàn Bá H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 6, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Kiều P trình bày: Ngày 30/9/2011, chị P và anh Đoàn Bá H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể kéo dài cuộc sống chung với nhau. Do vậy, chị P yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh H. Về con chung: Chị P và anh H có hai con chung là Đoàn Long G, sinh ngày 26/11/2012 và Đoàn Gia N, sinh ngày 07/11/2014. Chị P đề nghị được nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đoàn Bá H tại bản khai ngày 28/9/2023 trình bày: Anh H và chị P tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn như chị P đã trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng không hiểu tính nhau, không thông cảm cho nhau nên có xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên, mẫu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng phải ly hôn, anh H mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi con. Vì vậy, anh H không đồng ý ly hôn với chị P. Về con chung: Anh H và chị P có hai con chung là Đoàn Long G, sinh ngày 26/11/2012 và Đoàn Gia N, sinh ngày 07/11/2014. Nếu ly hôn, anh H đề nghị được nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Kiều P yêu cầu ly hôn với anh Đoàn Bá H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 6, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A. Bị đơn anh H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều P và anh Đoàn Bá H có đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị P và anh H đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến chị P có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh H. Thôn 6 và Ủy ban nhân dân xã T đã có xác nhận về tình trạng mâu thuẫn của chị P và anh H. Anh H không đồng ý ly hôn với chị P và mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh H. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên hòa giải nhưng anh H không đến, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích động viên để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị P vẫn cương quyết ly hôn với anh H. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh H là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P đối với anh H.

Về con chung: Chị P và anh H có hai con chung là Đoàn Long G, sinh ngày 26/11/2012 và Đoàn Gia N, sinh ngày 07/11/2014. Tại phiên tòa, chị P cho rằng hiện nay chưa đủ điều kiện để nuôi con nên đồng ý giao hai con cho anh H nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, các cháu G và N có nguyện vọng được anh H nuôi dưỡng, anh H cũng có yêu cầu được trực tiếp nuôi con và chị P đồng ý giao hai con cho anh H nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao các cháu G và N cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh H không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, bị đơn anh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Kiều P.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kiều P được ly hôn với anh Đoàn Bá H.

- Về nuôi con chung: Giao cho anh Đoàn Bá H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Đoàn Long G, sinh ngày 26/11/2012 và Đoàn Gia N, sinh ngày 07/11/2014; khi các cháu G và N chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Anh H không yêu cầu chị P phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Chị Trần Thị Kiều P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng, theo biên lai thu tiền số 0006843 ngày 05/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai; chị P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (01/12/2023), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ