- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN - NUÔI CON CHUNG"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị M. Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Huỳnh Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày: 18/4/2023 V/v “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Yến Linh
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bính
2. Bà Trần Thị Thanh Nga
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Biện Anh Huy –Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Cao Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 119/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 173/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11/4/2023 giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M - sinh năm 1982
Trú tại: khu phố 02, phường Phú H, Tp P, tỉnh Bình Thuận
Bị đơn: Ông Huỳnh Hồng N - sinh năm 1981
Trú tại: khu phố 02, phường Phú H, Tp P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà M, vắng mặt ông N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2023, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Huỳnh Hồng N tự nguyện tìm hiểu, quen biết nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phú H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 17/12/2007.
Chúng tôi chung sống hạnh phúc được thời đầu. Tuy nhiên vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, mỗi người đều có cách sống khác nhau, không ai quan tâm đến ai, ông N thường xuyên nhậu nhẹt về la mắng vợ con, đập phá đồ đạc trong nhà, hù dọa giết tôi, cuộc sống tôi luôn trong lo sợ, nên đời sống vợ chồng không có hạnh phúc nên tôi làm đơn này mong Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Huỳnh Hồng N.
Tại Tòa hôm nay tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Hồng N. Tôi đã nhiều lần tha thứ, tạo điều kiện để ông N thay đổi, nhưng ông N không đồng thay đổi. Từ 02 năm nay, vợ chồng không có tiếng nói chung, không nói chuyện với nhau, tôi đề nghị Tòa sớm giải quyết cho tôi được ly hôn.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014. Tôi sẽ trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014. Tôi chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết ông Huỳnh Hồng N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà M tự nguyện tìm hiểu, quen biết nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Phú H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 17/12/2007.
Chúng tôi chung sống hạnh phúc được thời đầu. Tuy nhiên vợ chồng cũng thường xuyên mâu thuẫn. Trước khi tôi đồng ý ly hôn thì tôi phải bàn bạc với gia đình 2 bên để đưa ra quyết định của mình. Hiện tại tôi không đồng ý ly hôn.
Từ trước Tết nguyên đán 2023 do công việc sa sút tôi không còn thu nhập nhiều nên cô M thay đổi.
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014. Tôi sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, giao con Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Tôi chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vụ án đã được Tòa án hòa giải nhưng không thành.
Bị đơn ông Huỳnh Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông N không đến Tòa án. Căn cứ vào Điều 70, Điều 72, Điều 92, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Đối với Thẩm phán từ khi thụ lý đến khi xét xử thực hiện đúng theo thủ tục. Hội đồng xét xử đúng như quyết định đưa vụ án ra xét xử, Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Bị đơn ông Huỳnh Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông N chỉ đến Tòa án một lần để viết bản tự khai, tham gia phiên hòa giải sau đó thì không đến Tòa án nữa. Căn cứ vào Điều 70, Điều 72, Điều 92, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt ông Nghi.
- Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ tại hồ sơ thể hiện mâu thuẫn giữa bà M và ông N đã trầm trọng. Do đó, căn cứ Điều 51, 53, 54, 56 Luật hôn nhân gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc xin ly hôn với ông Huỳnh Hồng N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị M làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Huỳnh Hồng N, ông N có nơi cư trú là khu phố 02, phường Phú H, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M Hội đồng xét xử thấy rằng: Về quan hệ hôn nhân, bà Nguyễn Thị M và ông Huỳnh Hồng N có đăng kí kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 143 ngày 17/12/2007 tại UBND phường Phú H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận nên quan hệ hôn nhân của bà M và ông N là hợp pháp.
Luật hôn nhân và gia đình quy định vợ chồng thì phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình hạnh phúc đồng thời phải biết tôn trọng, giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Qua lời khai của bà M thì ông bà không còn hạnh phúc, không còn quan tâm, tôn trọng, chung sống với nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, ông bà mặc dù là sống chung chung cùng một nhà, nhưng ông bà không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, không ai còn quan tâm đến ai, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N thừa nhận vợ chồng cũng có mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cải vã nhau, ông N và bà M không còn nói chuyện cũng như quan tâm chăm lo cho gia đình như trước nữa. Mặc dù, Tòa án đã triệu tập ông N đến Tòa để tiếp tục giải quyết vụ án, ông N chỉ có mặt tại Tòa án tham gia trình bày ý kiến của mình. Và sau đó ông N vắng mặt không có lý do chính đáng, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2. Điều này chứng tỏ mối quan hệ hôn nhân của ông bà đã thật sự rạn nứt, nếu tiếp tục chung sống cũng không có hạnh phúc. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi và nhằm ổn định cuộc sống cho các bên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M là phù hợp.
Bị đơn ông Huỳnh Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông N chỉ đến Tòa án một lần để ghi lời khai, tham gia phiên hòa giải sau đó thì không đến Tòa án nữa. Căn cứ vào Điều 70, Điều 72, Điều 92, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem như ông N đã tự khước từ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và tiến hành xét xử vắng mặt ông Nghi.
Về con chung: Bà M và ông N có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014.
Bà M đề nghị sẽ trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014.
Ông N đề nghị sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, giao con Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại biên bản ghi lời khai, của các cháu Huỳnh Nguyễn Bảo T và Huỳnh Hồng T1 thì các cháu có yêu cầu được ở với mẹ. Tại phiên tòa bà M tha thiết được nuôi dưỡng các con và bà cam đoan có đủ điều kiện, thu nhập để nuôi các con. Mặc khác, trong quá trình giải quyết ông N trình bày hiện nay ông N công việc sa sút, không còn thu nhập nhiều như trước đây. Vì vậy, để đảm bảo đời sống của các cháu được ổn định, nghĩ nên tiếp tục giao các cháu cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, giao 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014 cho bà Nguyễn Thị M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về phương thức cấp dưỡng: Do bà Nguyễn Thị M chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Huỳnh Hồng N nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Do ông bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ông bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét ý kiến trình bày của đương sự, cũng như quan điểm đề nghị tại Tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về việc xin ly hôn của bà Nguyễn Thị M là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí về việc yêu cầu xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 01 Điều 28, khoản 01 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị M. Bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Huỳnh Hồng N.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Bảo T (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng T1 (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014. Giao 02 con chung tên Huỳnh Nguyễn Bảo Thy (giới tính: Nữ), sinh ngày 09/11/2008, Huỳnh Hồng Thuận (giới tính: Nam), sinh ngày 19/11/2014 cho bà Nguyễn Thị M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Về phương thức cấp dưỡng: Do bà Nguyễn Thị M chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Huỳnh Hồng N nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Ông bà khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 08/3/2023 bà Nguyễn Thị M đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố Phan Thiết thu biên lai số 0015509 nay được chuyển sang án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày tính từ ngày tuyên án (18/4/2023) và của bị đơn tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND thành phố Phan Thiết; - VKSND thành phố Phan Thiết; - Thi hành án dân sự Phan Thiết; - UBND xã, phường (nơi đăng ký kết hôn); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Đỗ Thị Yến Linh |