- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa Ph và anh V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Vũ Bá V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thẩm quyền giải
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 – 5 – 2023 “V/v tranh chấp Ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Vũ Bá V” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Diễn
2. Bà Nguyễn Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1996;
Nơi cư trú: Thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
2. Bị đơn: Anh Vũ Bá V, sinh năm 1993;
Nơi cư trú: Thôn Gi, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Ph có mặt, anh Vũ Bá V vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ph trình bày: Chị và anh Vũ Bá V tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình ngày 09/01/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được gần 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra mâu thuẫn. Mâu thuẫn căng thẳng đến tháng 12/2016 vợ chồng chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin được ly hôn anh V.
Chị Ph khai, vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Bá Th, sinh ngày 02/12/2014. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Chị Ph khai, vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, chị không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn là anh Vũ Bá V: Tại phiên tòa anh V vắng mặt nhưng trong bản tự khai và đơn xin giải quyết vắng mặt anh V trình bày: anh xác nhận lời khai của chị Ph về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Chị Ph làm đơn ly hôn với anh, anh V nhất trí ly hôn với chị Ph.
Anh V khai, vợ chồng có 01 con chung là cháu Vũ Bá Th, sinh ngày 02/12/2014. Ly hôn anh nhường quyền cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh không góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Ph khởi kiện xin ly hôn anh Vũ Bá V. Chị Ph, anh V đều có địa chỉ cư trú tại huyện Q, tỉnh Thái Bình, căn cứ các điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; bị đơn là anh Vũ Bá V có đơn xin giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tiến hành xét xử vụ án. Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ;
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Vũ Bá V xây dựng trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số 05 ngày 09/01/2014 là hôn nhân hợp pháp. Theo trình bày của chị Ph, anh V quá trình chung sống vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và hiện tại chị Ph và anh V đã sống ly thân với nhau. Chị Ph và anh V không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Ph xin ly hôn anh V, anh V cũng đồng ý ly hôn với chị Ph và có đơn xin vắng mặt tại các buổi hòa giải và tại phiên tòa. Điều đó cho thấy anh V không có thiện chí hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Chị Ph cũng 1 mực xin ly hôn anh V. Quan hệ hôn nhân giữa anh chị thực sự tan vỡ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ph, xử cho chị Ph được ly hôn anh V là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ph và anh Vũ Bá V có 01 con chung là cháu Vũ Bá Th, sinh ngày 02/12/2014, xét nguyện vọng xin được nuôi con chung của chị Ph là chính đáng, chị Ph có thu nhập ổn định. Cháu Th cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, đồng thời anh V cũng có nguyện vọng để chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị Ph, giao con chung cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chị Ph không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ph khai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết về phân chia tài sản; quá trình giải quyết vụ án anh Vũ Bá V không yêu cầu Tòa án giải quyết về phân chia tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ph và anh Vũ Bá V có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Vũ Bá V.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Bá Th, sinh ngày 02/12/2014 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.
Anh Vũ Bá V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị Ph đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005000 ngày 09 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Ph có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Vũ Bá V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ; - UBND xã A, huyện Q; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huy Hoàng |