vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị X và anh Lò Văn H. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục Lò Thị Minh N, sinh ngày 20/11/2007 và cháu Lò Tiến Đ, sinh ngày 14/5/2012 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và đủ k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị X/Lò Văn H không công nhận vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án tuyên xử:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật hôn nhân gia đình xác định yêu cầu
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/6/2023.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thuý Hà.

2. Ông Lường Văn Hưởng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng - tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Ngân – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 30/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 về việc “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023 /QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò Thị X, sinh năm 1989

Nơi cư trú: Bản CE, xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên, (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Bà Hà Thị T – Trợ giúp viên pháp lý (Có mặt).

Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên.

Bị đơn: Anh Lò Văn H, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Bản PK, xã ẲC, huyện MA, Điện Biên. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 08 tháng 02 năm 2023, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lò Thị X trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị X và anh Lò Văn H tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2004 nhưng không đăng kí kết hôn. Trước khi lấy nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới chị Lò Thị X và Lò Văn H sống tại bản PK, xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống, chị Lò Thị X và Lò Văn H sống hạnh phúc được 15 năm. Từ năm 2019, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, Lò Văn H nghiện ma túy, không tu chí làm ăn, không quan tâm đến gia đình vợ con. Mâu thuẫn quá lớn khiến đời sống hôn nhân không thể hòa hợp, giữa vợ chồng anh chị không thể tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Do mâu thuẫn kéo dài nên từ tháng 05/2022 đến nay chị Lò Thị X và Lò Văn H không sống cùng nhau nữa. Do không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung với Lò Văn H nên chị Lò Thị X đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị X với anh Lò Văn H.

Về con chung: Chị Lò Thị X và Lò Văn H có 03 người con chung là các cháu Lò Thị P, sinh ngày 19/05/2004, cháu Lò Thị Minh N, sinh ngày 20/11/2007 và cháu Lò Tiến Đ, sinh ngày 14/05/2012. Về con chung chị Lò Thị X yêu cầu giải quyết như sau: Hiện cháu Lò Thị P đã trưởng thành và có gia đình riêng, còn 02 cháu (Lò Thị Minh N + Lò Tiến Đ) đang sống cùng với chị Lò Thị X tại bản CE, xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình giải quyết chị Lò Thị X có nguyện vọng được nuôi 02 cháu (Lò Thị Minh N + Lò Tiến Đ) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Lò Thị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ thu về, nợ phải trả: Chị Lò Thị X và Lò Văn H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Lò Thị X có đơn đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm.

*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn nhất trí với đề nghị của nguyên đơn và đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận nội dung của chị Lò Thị X trình bày tại phiên tòa.

* Bị đơn – Anh Lò Văn H được triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt tại buổi công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự ở giai đoạn sơ thẩm.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 9, 14 và Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị X và anh Lò Văn H.

Về con chung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 15, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao 02 cháu Lò Thị Minh N, sinh ngày 20/11/2007 và cháu Lò Tiến Đ, sinh ngày 14/5/2012 cho chị Lò Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Cháu Lò Thị P, sinh ngày 19/5/2004, hiện nay cháu Lò Thị P đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không xem xét giải quyết. Anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung; Lò Văn H được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở; Lò Văn H được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ thu về, nợ phải trả: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 147 BLTTDS, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lò Thị X, do chị Lò Thị X là người dân tộc thiểu sống sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Xét đơn khởi kiện của chị Lò Thị X với anh Lò Văn H thì được xác định là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nhưng chị Lò Thị X và Lò Văn H không có đăng ký kết hơn nên thuộc trường hợp “yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp nuôi con chung theo quy định tại các Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Thời điểm chị Lò Thị X nộp đơn ly hôn, anh Lò Văn H có nơi cư trú tại bản PK, xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án.

Ngày 10 tháng 02 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Lò Thị X và bị đơn anh Lò Văn H. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án, tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày bị đơn anh Lò Văn H không có ý kiến gì.

Ngày 15/3/2023 Tòa án ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã tiến hành tống đạt theo quy định cho anh Lò Văn H nhưng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 31/3/2023 Lò Văn H không đến tham gia. Ngày 31/3/2023 chị Lò Thị X có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải mà Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt Quyết định theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày 17/5/2023, Nguyên đơn là chị Lò Thị X có mặt, bị đơn là anh Lò Văn H vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 05/6/2023.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là chị Lò Thị X có mặt; Bị đơn là anh Lò Văn H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt Lò Văn H.

Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Xét về quan hệ hôn nhân của chị Lò Thị X và anh Lò Văn H được xác lập vào năm 2004, việc sống chung là do hai anh chị tự nguyện, đến thời điểm đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng anh chị không đi đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ trên lời khai của các đương sự, Tòa án cũng tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Ẳng Cang, huyện Mường Ảng thì xác định chị Lò Thị X và anh Lò Văn H không có đăng ký kết hôn mặc dù đã đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình. Vì vậy, quan hệ của hai anh chị không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Xét thấy, anh chị không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ chị Lò Thị X, Lò Văn H đã mâu thuẫn trầm trọng. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân gia đình xác định yêu cầu của chị Lò Thị X là có cơ sở để tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị X và anh Lò Văn H.

Về con chung: Xét yêu cầu giao nuôi con chung của chị Lò Thị X cũng như nguyện vọng của 02 cháu Lò Thị Minh N và cháu Lò Tiến Đ thì thấy: Việc chị Lò Thị X muốn tự mình nhận nuôi 02 cháu (Lò Thị Minh N + Lò Tiến Đ) là phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Hiện nay 02 cháu vẫn còn nhỏ nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt của các cháu. Còn cháu Lò Thị P do đã trưởng thành và có gia đình riêng nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 cháu Lò Thị Minh N và cháu Lò Tiến Đ cho chị Lò Thị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và đủ khả năng lao động.

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị Lò Thị X không yêu cầu anh Lò Văn H cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ thu về, nợ phải trả: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Xét thấy chị Lò Thị X là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí, vì vậy Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị Xôm.

Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đưa ra đề nghị hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung vụ án, vì vậy cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lò Thị X và anh Lò Văn H.

2. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục Lò Thị Minh N, sinh ngày 20/11/2007 và cháu Lò Tiến Đ, sinh ngày 14/5/2012 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và đủ khả năng lao động. Anh Lò Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Lò Văn H có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lò Thị X có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con, cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Anh Lò Văn H có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ thu về, nợ phải trả: Chị Lò Thị X và Lò Văn H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lò Thị X.

Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Lò Văn H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người vắng mặt.

Cỡ chữ