vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Phạm Ngọc H.

Về quan hệ con chung: Giao con Phạm H Anh N, sinh ngày 27/5/2016 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Phạm Ngọc H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản và anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân gia đình Anh Phạm Ngọc H và Chị Nguyễn Thị V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Phạm Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con Phạm H Anh Nhi; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/11/2023.
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Việt và ông Trịnh Xuân Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Huơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Không.

Ngày 17/11/2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2023/TLST

- HNGĐ ngày 10/8/2023 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-DS ngày 12/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2023/QĐST-DS ngày 30/10/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Ngọc H. Sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà ngày hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày:

Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị V và anh Phạm Ngọc H đăng ký kết hôn vào ngày 04/3/2016, tại UBND xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống tại thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 giữa vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân bất đồng về quan điểm sống do anh K không tu chí làm ăn, thiếu trách nhiệm với gia đình, không tìm được sự đồng cảm để giải quyết vấn đề gia đình, nên vợ chồng không chung sống được với nhau, đã sống ly thân với nhau từ tháng 3/2022 cho đến nay và đã cắt đứt mọi quan hệ. Nay chị V nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hạnh phúc hôn nhân không thể đạt được nữa nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị V được ly hôn với anh Phạm Ngọc H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm H Anh Nhi, sinh ngày 27/5/2016 đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị V được quyền nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu anh Phạm Ngọc H phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Ngọc H: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh K biết, đã biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án, không có mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, có đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng măt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà sơ thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị V có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện H giải quyết ly hôn, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Ngọc H có địa chỉ cư trú thôn T, xã G, huyện H nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H.

Bị đơn anh Phạm Ngọc H đã biết được Tòa án thụ lý vụ án, nhưng không có mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn. Nên vụ án không thể hòa giải để các đương sự thỏa thuận được với nhau. Vì vậy vụ án phải đưa ra xét xử. Tòa án đã triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ 01 nhưng bị đơn vắng mặt nên hoãn phiên tòa, đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn. Phiên tòa lần thứ 2 bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị V và Phạm Ngọc H kết hôn dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh H là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thể hòa hợp trong cuộc sống hôn nhân, không đem lại hạnh phúc cho nhau, dẫn đến mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị V đã về nhà mẹ đẻ sống từ tháng 3/2022 cho đến nay, vợ chồng đã sống ly thân nhau, đã cắt đứt mọi quan hệ với nhau. HĐXX nhận thấy suốt một thời gian dài vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được nữa. Việc chị V làm đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên HĐXX chấp nhận. Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Phạm Ngọc H.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Phạm H Anh N, sinh ngày 27/5/2016. Chị Nguyễn Thị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con, về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy việc chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm H Anh Nhi là chính đáng, đảm bảo đầy đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con sau ly hôn, cũng phù hợp với ý kiến của con xin ở với Mẹ. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình giao con Phạm H Anh Nhi, sinh ngày 27/5/2016 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chị V không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét. Anh H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm theo quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án sơ thẩm phí theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57; Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Về quan hệ tình cảm: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Phạm Ngọc H.

2. Về quan hệ con chung: Giao con Phạm H Anh N, sinh ngày 27/5/2016 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Anh Phạm Ngọc H được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản và anh H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, chị V đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn theo biên lai số 0007940 ngày 09/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, nay không phải nộp nữa.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án sơ thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Hà Tĩnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện H;

- Các đương sự;

- UBND xã G;

- Chi cục THADS H;

- Lưu hồ sơ; VP-TA.

Lê Văn Phú

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Việt

Trịnh Xuân Minh

Lê Văn Phú

Cỡ chữ