vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Bùi Văn C .

Về con chung: Giao cháu Bùi Văn Q M , sinh ngày 31/7/2014 và Bùi M Ch , sinh ngày 18/4/2020 cho chị Nguyễn Thị Th chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C . Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án dân sự thụ lý số 97/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Bùi Văn C .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/7/2023
"V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Thái Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Văn Dũng

2. Ông: Hoàng Công Hải .

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quảng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Hà – Chức vụ; Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2023/TLST- HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:93/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 53/2023/QĐ – ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th , sinh năm 1990.

Trú tại: xóm 1, xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn C , sinh năm 1984.

Địa chỉ: xóm 1, xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, Nghệ An. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 02 năm 2023 và lời khai tại bản khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị Th và anh Bùi Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2012 tại UBND xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, theo giấy đăng ký kết hôn số 56/20212 quyển số 01/2012. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi sinh con đầu lòng vào khoảng năm 2014 thì hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân hai người không thông cảm cho nhau, không có tiếng nói chung, đỉnh điểm là năm 2020 mâu thuẫn càng trầm trọng, chị Th và anh C nhiều lần cải vả xích mích làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình và hàng xóm. Chị Th và anh C đã sống ly thân từ năm 3/2022 đến nay không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Nay chị Th đề nghị tòa án nhân dân huyện Diễn Châu giải quyết ly hôn giữa chị Th và anh C .

- Về con chung: Quá trình chung sống hai người có hai con chung Bùi Văn Q M , sinh ngày 31/7/2014 và Bùi M Ch , sinh ngày 18/4/2020. Giải quyết ly hôn chị Th nên chị Th đề nghị được chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống hai người có lập được một khối tài sản nhỏ. Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Toà sơ thẩm nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, có mặt tại phiên họp tiếp cận công khai kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải tiến hành các bước thu thập chứng cứ, hòa giải theo quy định pháp luật. Bị đơn anh Bùi Văn C mặc dù Tòa án đã giao giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác đúng quy định Pháp luật nhưng anh C không đến Tòa án làm việc mà anh C để cho Bùi Văn Ch là bố đẻ của anh C nhận thay, ông Chủy cam kết giao tận tay cho anh C và thông báo cho anh C , anh C nhưng anh C không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không có mặt tại phiên họp tiếp cận công khai kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải. Tòa án đã trực tiếp gặp anh C , anh C có trình bày ý kiến nhưng khong ký vào biên bản làm việc.Tại phiên tòa lần thứ nhất anh C vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản Tố tụng hợp pháp, phiên Tòa lần thứ hai anh C tiếp tục vắng mặt. Xét thấy anh C không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân này, anh C bỏ mặc không cần xem hậu quả của việc ly hôn, cần xét xử vắng mặt anh C theo quy định của Pháp luật.

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử cũng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử, không có vi phạm về thủ tục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn ý kiến trình bày của kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn. chấp hành theo quyết định của tòa án, ccủủaa Cơ quan tiến hành tố tụng tại phiên tòa thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt, phiên tòa thứ hai nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Bùi Văn C vắng mặt nên áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Th - anh Bùi Văn C .

Về tình trạng hôn nhân: Căn cứ vào tài liệu có tại hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và các tài liệu do tòa án thu thập được có đủ căn cứ xác định: Chị Nguyễn Thị Th và anh Bùi Văn C đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2012 tại UBND xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, theo giấy đăng ký kết hôn số 56/20212 quyển số 01/2012. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Chung sống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp tính tình, bất hòa với nhau. Hai người sống không có tình cảm, không có tiếng nói chung. Hai người hay va chạm, xúc phạm lẫn nhau làm ảnh hưởng đến các con và hàng xóm. Mâu thuẫn hai người có hòa giải, trao đổi nhưng không có kết quả. Đến nay hai người sống ly thân từ năm 2022, không còn đi lại, quan tâm nhau. Nay chị Nguyễn Thị Th yêu cầu tòa án giải quyết cho anh được ly hôn anh Bùi Văn C , là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống hai người có hai con chung Bùi Văn Q M , sinh ngày 31/7/2014 và Bùi M Ch , sinh ngày 18/4/2020. Xét thấy tại phiên tòa hôm nay vắng mặt chị Th và anh C ; chị Th có nguyện vọng giao hai con chung cho chị được chăm sóc giáo dục, hai cháu đang ăn học ổn định cùng chị Th và ông bà ngoại tại xóm 1, xã Diễn Phú, huyện Diễn Châu, Nghệ An, cháu Bùi M Ch chưa đủ 36 tháng tuổi xét thấy không cần tách hai cháu hai nơi làm ảnh hưởng đến tâm lý phát triển của các cháu, vì vậy việc giao con cho chị Th là có cơ sở pháp lý. Chị Th có trách nhiệm chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung, từ lâu nay anh C không đóng góp bất cứ khoản nào cho chị Th chăm sóc nuôi dưỡng hai con, chị Th không yêu cầu giải quyết, Tòa án quyết định tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C .

Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản, vay nợ chung của vợ chồng: Trong vụ án này chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Tòa án không xem xét, anh C vắng mặt và Tòa án không nhận được ý kiến gì về mối quan hệ này, nếu có thì anh C có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: vào khoản 3 điều 144, khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 điều 228 ; Điều 266, 271 khoản 1 điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; 54; 56; khoản 1 Điều 59; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí của tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Bùi Văn C .

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Văn Q M , sinh ngày 31/7/2014 và Bùi M Ch , sinh ngày 18/4/2020 cho chị Nguyễn Thị Th chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C .

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con thì các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản, vay nợ chung của vợ chồng: Không giải quyết

4. Án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, buộc chị Nguyễn Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào khoản tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai số 0002264 ngày 27/3/2023. Chị Nguyễn Thị Th đã nộp đủ án phí DSST.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ