- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị L và Đỗ Thế H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày 25-7-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Định
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thắng;
2. Ông Vũ Văn Thôn.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 539/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, quyết định hoãn phiên toà số 619/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Đỗ Thế H, nơi đăng ký hộ khẩu và hiện ở: Thôn T, xã M,
huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 3 năm 2023 và các bản tự khai nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:
Chị Hoàng Thị L và anh Đỗ Thế H kết hôn do tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức năm 2004. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng nhau tại Thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 và ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do anh H có quan hệ với người phụ nữ khác, thường xuyên vắng nhà không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng thường xảy ra cãi vã, không còn tôn trọng nhau, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng, ngột ngạt. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và anh chị đã ly thân từ năm 2022 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Nay chị thấy vợ chồng không thể hàn gắn được tình cảm nên làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Thế H. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Đỗ Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007 và Đỗ Huy V sinh ngày 28 tháng 5 năm 2012, hiện cháu lớn đang ở với bố, cháu bé đang ở với mẹ nên chị đề nghị khi ly hôn được nuôi con Đỗ Huy V; anh H nuôi con Đỗ Quang H cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi nhưng nếu các con đều muốn ở với mẹ thì chị cũng đồng ý. Việc cấp dưỡng nuôi con chung Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về phía bị đơn là anh Đỗ Thế H trong suốt quá trình giải quyết vụ án không đến Toà án làm việc, không có ý kiến và không giao nộp tài liệu chứng cứ gì. Đến ngày 21/7/2023, anh H có đơn trình bày không có ý kiến gì về việc Toà án giải quyết việc ly hôn của anh và Chị L. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Đỗ Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007 và Đỗ Huy V sinh ngày 28 tháng 5 năm 2012. Khi ly hôn anh đề nghị được nuôi cả hai con và không yêu cầu Chị L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Đỗ Thế H; về con chung: Do các con đều có nguyện vọng ở với mẹ và bản thân Chị L tại phiên toà đồng ý nuôi cả hai con nếu các cháu muốn, vì vậy đề nghị giao cả hai con chung Đỗ Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007 và Đỗ Huy V sinh ngày 28 tháng 5 năm 2012 cho chị Hoàng Thị L nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành. Chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị L có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh Đỗ Thế H hiện đang sinh sống tại Thôn T, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn là anh Đỗ Thế H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, không có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt mặc dù trong suốt quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Anh Đỗ Thế H cũng không cung cấp, giao nộp tài liệu chứng cứ gì cho Toà án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Đỗ Thế H kết hôn do tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Mỹ Đức năm 2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng thường xảy ra cãi vã, không còn tôn trọng nhau, cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng, ngột ngạt. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và anh chị đã ly thân từ năm 2022 đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa. Hội đồng xét xử nhận định: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị L và anh H đã rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc Chị L có đơn xin ly hôn anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Đỗ Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007 và Đỗ Huy V sinh ngày 28 tháng 5 năm 2012. Chị L đề nghị khi ly hôn chị và anh H mỗi người nuôi một con (Chị L xin nuôi con bé và anh H nuôi con lớn) nhưng nếu các cháu có nguyện vọng ở với mẹ thì chị cũng đồng ý nuôi cả hai con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét, tuy cả hai cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ nhưng Chị L làm công nhân thời vụ thu nhập 08 triệu đồng/tháng. Thực tế hiện cháu lớn đang ở với bố, cháu bé đang ở với mẹ. Chị L cũng xác nhận anh H làm nghề cơ khí, thu nhập khoảng 10 triệu đồng/tháng. Xác minh tại địa phương và hai bên gia đình thấy cả hai anh chị đều có chỗ ở ổn định, có công việc và thu nhập đủ để nuôi một con. Hội đồng xét xử nhận định việc Chị L tại phiên toà có nguyện vọng được nuôi cả hai con là việc xuất phát từ tình cảm mẹ con. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên toà không căn cứ vào thực tế cuộc sống của các đương sự cùng các điều kiện tốt nhất theo quy định của pháp luật để đảm bảo cuộc sống cho con là chưa xác đáng nên không được chấp nhận. Hơn nữa, nguyện vọng của các con trong vụ án hôn nhân gia đình là yếu tố để Hội đồng xét xử xem xét, không phải yếu tố quyết định. Do vậy, cần giao con chung Đỗ Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007 cho anh Đỗ Thế H nuôi dưỡng; giao con chung Đỗ Huy V sinh ngày 28 tháng 5 năm 2012 cho chị Hoàng Thị L nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành là bảo đảm các điều kiện tốt nhất cho các cháu cũng như bảo đảm quyền làm cha, mẹ của anh H, Chị L. Anh H và Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị L và anh Đỗ Thế H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Đỗ Thế H.
2. Về con chung: giao con chung Đỗ Quang H, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2007 cho anh Đỗ Thế H trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Đỗ Huy V sinh ngày 28 tháng 5 năm 2012 cho chị Hoàng Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Đỗ Thế H và chị Hoàng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Hoàng Thị L đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001490 ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Chị Hoàng Thị L đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Hoàng Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đỗ Thế H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hải Phòng; - VKSND huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - Các đương sự; - UBND xã Mỹ Đức; - Lưu: Hồ sơ; HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Định THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Định |