vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng - Nguyễn Hữu Xây"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!TÂN!YÊN!
TỈNH!BẮC!GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày 30/6/2023
!
V/v “Tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau ly hôn”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!TÂN!YÊN,!TỈNH!BẮC!GIANG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Giáp Quang Huy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Sửu; 2. Ông Trần Văn Thiện.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Nam - Thư ký Toà án huyện T.

- Đại diện VKSND huyện T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 103/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2023 về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109 ngày 02/6/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 99 ngày 21/6/2023, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố Tr, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu X, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 12/4/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu X kết hôn năm 2009 đến năm 2023 do vợ chồng mâu thuẫn nên chị và anh X ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 26 ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện T đã công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hữu X và giao anh X trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 19/9/2010; Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 14/5/2013; Nguyễn Tuấn Anh, sinh ngày 16/8/2018. Tuy nhiên, sau khi ly hôn anh X không nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con được tốt, trong đó anh X còn đánh đập các con, làm cho các con bị tổn thương về thể chất và tâm lý, nên con Ng và con M có bảo chị xin thay đổi người nuôi con để các con được về ở với mẹ; do đó chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể: Chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng các con Nguyễn Thúy Ng và Nguyễn Thị Trà M. Cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện chị đang làm công nhân may tại Công ty may xuất khẩu Hà Bắc với mức lương ổn định 7.000.000 đồng/tháng và chị ở cùng nhà với bố mẹ đẻ tại tổ dân phố Tr, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bố mẹ chị đều tạo điều kiện để chị cùng các con có chỗ ở tốt nếu được Tòa án chấp nhận yêu cầu xin thay đổi nuôi con của chị.

* Tại bản tự khai ngày 26/4/2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hữu X trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn năm 2009, đến năm 2023 do vợ chồng mâu thuẫn nên anh và chị H ly hôn. Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 26 ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện T đã công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Hữu X và giao anh X trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 19/9/2010; Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 14/5/2013 và Nguyễn Tuấn Anh, sinh ngày 16/8/2018. Sau khi ly hôn thì các con ở cùng với anh tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang và các con sống ổn định từ đó cho đến nay. Hiện anh đang buôn bán chó, mèo, lợn, gà, thu nhập trung bình khoảng 15.000.000 đồng/tháng nên vẫn đảm bảo việc nuôi các con được tốt, do đó nay chị H xin thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Thúy Ng và Nguyễn Thị Trà M thì anh không đồng ý.

* Tại bản tự khai ngày 19/5/2023, ngày 23/5/2023 cháu Nguyễn Thúy Ng và cháu Nguyễn Thị Trà M trình bầy:

Các cháu hiện đang ở với bố Nguyễn Hữu X, nhưng mỗi khi các cháu mắc lỗi gì thì bị bố cháu đánh, có lần bố cháu đánh bằng tay, có lần bố cháu dùng thắt lưng da và ít khi các cháu được gặp mẹ, vì bố cháu không cho các cháu xuống gặp mẹ. Nay các cháu có nguyện vọng muốn được về ở với mẹ H.

Quá trình giải quyết vụ án; Tòa án đã mở phiên hoà giải để các bên thỏa thuận nhưng các bên đều giữ nguyên yêu cầu của mình, nên không thỏa thuận được.

Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Thúy Ng, con Nguyễn Thị Trà M và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Anh X không đồng ý với yêu cầu thay đổi trực tiếp nuôi dưỡng con của chị H.

Đại diện Viện kiểm sát trình bầy ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 81, Điều 82; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. Giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thúy Ng và Nguyễn Thị Trà M. Cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Anh X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con của chị Nguyễn Thị H thì thấy: Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 26 ngày 22/02/2023 của Tòa án huyện T công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể: Giao anh Nguyễn Hữu X trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 19/9/2010; Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 14/5/2013 và Nguyễn Tuấn Anh, sinh ngày 16/8/2018. Chị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị H thực hiện quyền, nghĩa vụ này. Tuy nhiên, sau khi ly hôn anh X nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chưa được tốt.

Theo bản tự khai của cháu Nguyễn Thúy Ng và cháu Nguyễn Thị Trà M trình bầy “Chúng cháu hiện nay đang ở với bố là Nguyễn Hữu X, mỗi khi các cháu mắc lỗi gì thì bị bố cháu đánh, có lần bố cháu đánh bằng tay, có lần bố cháu dùng thắt lưng da để đánh, các cháu ít khi được gặp mẹ vì bố cháu cấm không cho xuống gặp mẹ. Nay các cháu có nguyện vọng muốn về ở với mẹ”.

Trong đó, Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Nghĩa vụ của cha mẹ là thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, chở thành ngời con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội”. Tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Tại khoản 3 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên”.

Mặt khác, qua xác minh tại địa phương được biết anh X đang nuôi dưỡng 03 con chung và hiện điều kiện kinh tế và hoàn cảnh của anh X không đảm bảo nuôi cả 03 con. Như vậy đã có căn cứ xác định anh X đã có hành vi đánh đập con Ng, con M khiến cho các con bị tổn thương về thể chất và tâm lý và có hành vi cấm các con gặp mẹ, xâm phạm đến quyền thăm nom con của chị H và điều kiện kinh tế của anh X không đảm bảo nuôi cả 03 con được tốt.

Do đó, nay chị H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cụ thể: Chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Thúy Ng và Nguyễn Thị Trà M là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của các con. Hiện chị H đang làm công nhân may tại Công ty may xuất khẩu Hà Bắc với thu nhập 7.000.000 đồng/tháng (có bảng chi lương có xác nhận của Công ty) và chị H ở cùng nhà với bố mẹ đẻ tại tổ dân phố Tr, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bố mẹ chị H cam kết tạo điều kiện để chị nuôi dưỡng, chăm sóc các con được đảm bảo, nên cần chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của chị H.

[2] Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của chị H, nên anh X phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ: Điều 69, khoản 1 Điều 71, Điều 81, Điều 82; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thúy Ng, sinh ngày 19/9/2010 và Nguyễn Thị Trà M, sinh ngày 14/5/2013.

Anh Nguyễn Hữu X không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con, không ai được cản trở anh Nguyễn Hữu X thực hiện quyền này.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Hữu X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trả lại chị Nguyễn Thị H 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004821 ngày 17/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ