- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hà Văn Đ - Trần Thị H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Về hôn nhân không công nhận quan hệ giữa ông Hà Văn Đ và bà Trần Thị H là quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21/4/2023 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Hồng Hạnh
Bà Lương Thị Cẩm Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Trong ngày 21 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 512/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa:
* Nguyên đơn: ông Hà Văn Đ, sinh năm 1970 (có mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
* Bị đơn: bà Trần Thị H, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2022, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn ông Hà Văn Đ như sau:
Vào năm 1993, sau thời gian tự tìm hiểu ông và bà Trần Thị H tự nguyện sống chung với nhau, ông bà có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi cưới, vợ chồng ông sống bên cha mẹ ông, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người không còn hợp nhau, bà H thường xuyên ghen tuông và gây chuyện vô cớ nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, dẫn đến vợ chồng ít nói chuyện với nhau, thời gian dài hai vợ chồng đã không còn tình cảm như trước và đã ly thân từ tháng 02/2021 đến nay. Trong thời ly thân, vợ chồng cũng đã bình tâm và suy nghĩ rất kỹ là không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với nhau được nữa nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H.
Quá trình chung sống, vợ chồng có một người con chung tên Hà Trung L, sinh ngày 24/8/1995, hiện nay đã trưởng thành và có gia đình riêng. Tài sản chung ông và bà H đã tự thỏa thuận. Nợ chung ông xác định là không có.
Tại phiên tòa, ông Đ yêu cầu Tòa án giải quyết: Về hôn nhân ông Đ yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị H. Về con chung tên Hà Trung L đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung vợ chồng ông đã tự thỏa thuận nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung không có nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị H trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Hà Văn Đ về năm kết hôn, về con chung, tài sản chung và về nợ chung. Còn về mâu thuẫn vợ chồng bà H cho rằng do ông Đ không chung thủy và tính tình cọc cằn nên vợ chồng không thể nói chuyện với nhau được nhiều, từ đó tình cảm vợ chồng trở nên lạnh nhạt và đã ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay là đúng sự thật. Bà nhận thấy cũng không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng như trước được nữa.
Về hôn nhân bà H đồng ý ly hôn với ông Hà Văn Đ. Về con chung tên Hà Trung L, sinh ngày 24/8/1995 đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung vợ chồng bà đã tự thỏa thuận nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Hà Văn Đ và bà Trần Thị H là tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: ông Hà Văn Đ và bà Trần Thị H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1993, ông bà có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian chung sống với nhau từ năm 1993 đến nay ông bà vẫn không thực hiện việc đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Tại phiên tòa, ông Đ và bà H đều cho rằng hai vợ chồng không hợp, vợ chồng đã ít nói chuyện với nhau thời gian dài, do đó hai người đã không còn tình cảm như trước và đã ly thân từ tháng 02/2021 đến nay. Ông Đ và bà H đều có nguyện vọng ly hôn với nhau. Do hôn nhân của ông bà không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu ly hôn của ông bà; mà cần áp dụng Điều 53 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên không công nhận quan hệ giữa ông Hà Văn Đ và bà Trần Thị H là quan hệ vợ chồng.
Về con chung: ông Đ, bà H đều xác nhận có một người con chung tên Hà Trung L, sinh ngày 24/8/1995 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX miễn xét.
Về tài sản chung: ông Đ, bà H đã tự thỏa thuận nên ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX miễn xét.
Về nợ chung: ông Đ, bà H xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí hôn nhân bằng 300.000đồng ông Đ phải nộp do ông có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; Điều 53 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Về hôn nhân không công nhận quan hệ giữa ông Hà Văn Đ và bà Trần Thị H là quan hệ vợ chồng.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.
3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông Hà Văn Đ phải nộp án phí là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001919 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, ông Đ đã nộp xong án phí HNST.
4. Ông Đ, bà H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 21/4/2023.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS Gò Quao; -Chi cục THA Gò Quao; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Danh Thị Kiều Oanh |