vanban.org

Bản án 38/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chấp nhận yêu cầu của chị H đối với anh S về việc yêu cầu cấp dưỡng để nuôi cháu N.

Buộc anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hình thức cấp dưỡng định kỳ hằng tháng, anh S có nghĩa vụ giao tiền cấp dưỡng vào ngày 10 hằng tháng; thời gian cấp dưỡng từ ngày 10/5/2023 đến khi cháu N đủ 18 tuổi. 2- Về án phí sơ thẩm: Anh S phải chịu tiền…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận yêu cầu của chị H đối với anh S về việc yêu cầu cấp dưỡng để nuôi cháu N.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 38/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-5-2023
Về việc tranh chấp cấp dưỡng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Để.

2. Ông Huỳnh Minh Nhì.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Vũ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2022/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp về cấp dưỡng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2023, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp T, xã H, huyện M, tỉnh Kiên Giang.

2- Bị đơn: Anh S, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Kiên Giang.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện Nguyên đơn trình bày: Năm 2020 anh S và chị H có thỏa thuận ly hôn, Quyết định ly hôn số 35/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Tại thời điểm ly hôn, hai bên tự thỏa thuận giao con là N cho chị H nuôi, chị H không yêu cầu cấp dưỡng. Tuy nhiên, anh chị có thỏa thuận bên ngoài, anh S sẽ tiếp tiền nuôi con, không cụ thể số tiền bao nhiêu nhưng cần chi xài cho con bao nhiêu thì anh S sẽ chịu chi phí 50%. Nhưng kể từ khi ly hôn, anh S không phụ lo cho con mà còn thách thức kiện ra Tòa. Để anh S có trách nhiệm với con, chị H yêu cầu anh S cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa, chị H thay đổi yêu cầu, chị H yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng, cấp hằng tháng.

- Tại Tờ tường trình ngày 15/11/2022 anh S trình bày: Anh không thống nhất cấp dưỡng, nếu chị H nuôi con không nỗi thì giao con cho anh S nuôi.

Tại phiên tòa, anh S đồng ý cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình và chấp hành nội quy phiên tòa. Đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị H về việc yêu cầu anh S cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Chị H và anh S có một người con chung, khi ly hôn anh chị thỏa thuận giao con cho chị H nuôi, nhưng không yêu cầu cấp dưỡng. Nay chị H yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về cấp dưỡng”.

Bị đơn vắng mặt trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm phán đã giải thích các trường hợp được trợ giúp pháp lý miễn phí nhưng các đương sự không ai thuộc trường hợp được trợ giúp.

Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, anh S chỉ trình bày nếu chị H nuôi con không nỗi thì giao con lại cho anh S nuôi, nhưng anh S không có đơn yêu cầu phản tố về tranh chấp thay đổi người nuôi con, Hội đồng xét xử xem đây là lời trình bày phản bác đối với yêu cầu của chị H chứ không phải yêu cầu phản tố nên không xem xét thay đổi người nuôi con trong vụ án này.

Anh S và chị H có một người con chung, năm 2020 anh chị ly hôn thỏa thuận giao con cho chị H nuôi, nhưng lúc này chị H không yêu cầu cấp dưỡng. Sau khi ly hôn, chị H thấy anh S thiếu trách nhiệm với con, không cấp dưỡng phụ lo cho con nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh S cấp dưỡng nuôi con. Theo đơn khởi kiện chị H yêu cầu anh S cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện hòa giải, động viên hai bên, chị H thay đổi yêu cầu, mỗi tháng còn 1.500.000 đồng; anh S đồng ý cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng, nhưng chị H không đồng ý nên hai bên không thỏa thuận được mức cấp dưỡng.

Theo qui định tại Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên trong trường hợp không sống chung với con. Hiện tại chị H là người trực tiếp nuôi con, nên anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Anh S trình bày hằng ngày cháu N đã có ông bà nội đưa đón, cho ăn hằng ngày và anh cũng lo cho cháu N hằng tháng hơn số tiền cấp dưỡng. Hội đồng xét xử cũng thấy được mức chi tiêu của ông bà và anh S cho cháu N có thể hơn nhiều lần mức cấp dưỡng mà chị H yêu cầu. Nhưng đây là tình cảm của ông bà nội và anh S đối với cháu N, không mang tính chất bắt buộc nên không thể căn cứ vào lý do anh S trình bày làm cơ sở bác đơn của chị H.

Về mức cấp dưỡng: Qua xác minh thì hiện nay anh S làm nghề tự do: chạy xe thuê bao (anh S trình bày xe của cha mẹ anh S, chạy hưởng 25%, thu nhập không ổn định, bình quân 03 - 04 triệu/tháng) và làm kỹ thuật âm thanh dàn nhạc (hưởng 25%, bình quân 02 - 03 triệu/tháng). Cháu N sinh ngày 18/02/2016 hiện nay hơn 07 tuổi, đang học lớp 1, nhu cầu thiết yếu hằng ngày tương đối cao. Mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng là thấp so với nhu cầu thiết yếu của cháu N.

Xét khả năng thực tế của anh S và nhu cầu thiết yếu sinh hoạt hằng ngày của cháu N, Hội đồng xét xử thấy mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 đồng là phù hợp, hỗ trợ một phần cho chị H nuôi cháu N ăn học tốt hơn. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị H với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng là phù hợp nên Hội đồng xét xử thống nhất buộc anh S cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi có thể tự lao động để nuôi bản thân.

Về án phí sơ thẩm: Anh S là người phải cấp dưỡng nên chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 92, 147, 207, 244, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 107, 110, 116, 117, 118, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Chấp nhận yêu cầu của chị H đối với anh S về việc yêu cầu cấp dưỡng để nuôi cháu N.

Buộc anh S có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Hình thức cấp dưỡng định kỳ hằng tháng, anh S có nghĩa vụ giao tiền cấp dưỡng vào ngày 10 hằng tháng; thời gian cấp dưỡng từ ngày 10/5/2023 đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

2- Về án phí sơ thẩm: Anh S phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

3- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ