vanban.org

Bản án 38/2023/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á. Buộc chị Đặng Phương M và anh Lê Văn N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á số tiền vốn và lãi là 3.

Kể từ ngày 07/7/2023 chị Đặng Phương M và anh Lê Văn N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 01609585 ngày 22/01/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Án phí sơ thẩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "TIN DUNG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á. Buộc chị Đặng Phương M và anh Lê Văn N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á số tiền vốn và lãi là 3.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/DSST
Ngày: 06 – 7 – 2023.
“ V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Văn Lập.

2/ Bà Trần Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Tuyết Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V không tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 104/2023/TLST - DS ngày 17 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2023/QĐXX - ST ngày 19 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á.

Địa chỉ trụ sở chính: Số 130, Phan Đăng Lưu, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền anh Lê Quang L – Nhân viên phát triển kinh doanh (Có mặt).

Địa chỉ: Số 91 Nam kỳ khởi nghĩa, khóm 1, thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Chị Đặng Phương M, sinh năm: 1977 (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn N, sinh năm: 1975 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: ấp 6, xã T.N, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đông Á do anh Lê Quang Lợi làm đại diện trình bày: Chị M có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đông Á Chi nhánh Vĩnh Long – Phòng giao dịch Vũng Liêm (sau đây viết tắt là DongA Bank), chi tiết như sau:

* Khoản cấp tín dụng :

- Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 01609585 ngày 22/01/2020.

- Số tiền vay: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng). Lãi suất: 11%/năm.

- Lãi suất quá hạn: 16,5%/năm. Thời hạn vay: 12 tháng. Mục đích vay: Mua bán.

2. Biện pháp đảm bảo:

- Anh Lê Văn N là chồng chị M có văn bản cam kết với DongA Bank về việc chịu trách nhiệm trả nợ thay cho chị M trong trường hợp chị M không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho DongA Bank.

- Trong quá trình vay, từ ngày 22/01/2020 đến ngày 15/3/2023, chị M chỉ trả được tổng số tiền như sau:

- Vốn: 12.313.462đ.

- Lãi trong hạn: 1.586.538đ.

- Lãi quá hạn: 0đ

- Tổng cộng: 13.900.000đ. Do chị M vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 22/3/2020, DongA Bank đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 06/7/2023, chị M còn nợ vốn và lãi là 3.968.746đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi sáu đồng).

Nay Ngân hàng Đông Á yêu cầu chị M anh N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu (gồm quá hạn, vốn) tính đến ngày 06/7/2023 là 3.968.746đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi sáu đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi chị M anh N thực trả hết nợ cho DongA Bank theo lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 01609585 ngày 22/01/2020.

Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ chị M anh N lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.

* Tài liệu, chứng cứ trong vụ án: Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 01609585 ngày 22/01/2020.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Đông Á và chị Đặng Phương M và anh Lê Văn N. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm. Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị M anh N đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á yêu cầu chị M anh N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á số tiền vốn vay và lãi là 3.968.746đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi sáu đồng) để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện Ngân hàng TMCP Đông Á đã cung cấp cho Tòa án Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp. Trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án có tống đạt các văn bản tố tụng và gửi các tài liệu chứng cứ cho chị M anh N nhưng phía chị M anh N vẫn cố tình lánh mặt không đến Tòa án trình bày ý kiến cũng như yêu cầu của mình. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là những tình tiết, sự kiện nguyên đơn không phải chứng minh.

Sau khi ký hợp đồng tín dụng cho vay trả góp ngày 22/01/2020 thì Ngân hàng đã giải ngân cho chị M anh N số tiền theo hợp đồng như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng theo nghĩa vụ của Ngân hàng, tuy nhiên phía chị M anh N không thực hiện đúng theo cam kết của hợp đồng làm cho quyền lợi của Ngân hàng Đông Á bị xâm phạm. [4] Từ những căn cứ nêu trên xác định “Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 01609585 ngày 22/01/2020” là có giá trị pháp lý. Nên đã có đủ cơ sở buộc chị M anh N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á số tiền vốn và lãi là 3.968.746đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi sáu đồng) là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự.

Án phí sơ thẩm: Buộc chị M anh N phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26, Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 463, Điều 465, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91; Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 35; Điều 39; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3; Điều 26, Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á. Buộc chị Đặng Phương M và anh Lê Văn N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á số tiền vốn và lãi là 3.968.746đ (Ba triệu chín trăm sáu mươi tám ngàn bảy trăm bốn mươi sáu đồng).

Kể từ ngày 07/7/2023 chị Đặng Phương M và anh Lê Văn N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 01609585 ngày 22/01/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

- Án phí sơ thẩm:

+ Buộc chị Đặng Phương M và anh Lê Văn N phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

+ Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số N00009369 ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ