vanban.org

Bản án 38/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND TX. Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 28/04/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "bà T kiện bà H và ông Đ yêu cầu trả tiền vay và hụi"
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGÃ NĂM
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2023/DS-ST.
Ngày: 28-4-2023
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản và hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hồng

Bà Bùi Thị Mỹ Xuân

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Diển, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2023/TLST–DS ngày 16 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và nợ hụi. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST – DS ngày 11/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm E, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1984 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1962 (có mặt) và bà Trần Thị Hồng H ( Trần Hồng H), sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: Khóm C, Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1/ Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn U trình bày:

Bà T có cho vợ chồng ông Đ, bà H vay số tiền , cụ thể như sau:

- Vào ngày 30/01/2020 âm lịch (dương lịch là ngày 23/02/2020) vợ chồng ông Đ, bà H có vay của bà T số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Cùng ngày vợ chồng ông Đ, bà H có vay thêm số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

- Vào ngày 30/03/2020 âm lịch (dương lịch là ngày 22/04/2020) vợ chồng ông Đ, bà H có vay số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

- Vào ngày 29/12/2020 âm lịch (dương lịch là ngày 10/02/2021) vợ chồng ông Đ, bà H có vay số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), cùng ngày vợ chồng ông Đ, bà H có vay thêm của tôi số tiền là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng)

Tổng cộng vợ chồng ông Đ, bà H vay của bà T là 410.000.000 đồng (Bốn trăm, mười triệu đồng).

Lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,66%/tháng, mục đích vay tiền để tiêu dùng trong gia đình, việc vay tiền có làm biên nhận và do bà H viết, đồng thời có bà H và ông Đ cùng ký tên vào biên nhận nợ.

Sau khi vay thì vợ chồng ông Đ, bà H có đóng lãi đến ngày 09/09/2022 âm lịch thì ngưng và không tiếp tục đóng lãi nữa.

- Vào năm 2020, bà T có chơi hụi do vợ chồng ông Đ, bà H làm chủ hụi:

+ Dây hụi 1: Hụi 5.000.000 đồng (hụi tháng) khui ngày 24/10/2020 âm lịch có 30 người tham gia, bà T chơi 02 phần, ở dây hụi này bà T đã đóng hụi sống đến lần thứ 25 thì vợ chồng ông Đ, bà H ngưng hụi, không tiếp tục chơi nữa, nên ở dây hụi này và vợ chồng ông Đ, bà H có cấn trừ và viết biên nhận nợ bà T số tiền hụi là 122.500.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

+ Dây hụi 2: Hụi 5.000.000 đồng (hụi tháng) khui ngày 30/11/2021 âm lịch có 30 người tham gia, bà T chơi 02 phần, ở dây hụi này bà T đã đóng hụi sống đến lần thứ 09 thì vợ chồng ông Đ, bà H ngưng hụi, không tiếp tục chơi nữa, nên ở dây hụi này và vợ chồng ông Đ, bà H có cấn trừ và viết biên nhận nợ số tiền hụi là 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).

Sau đó vợ chồng ông Đ, bà H có viết biên nhận về việc còn nợ bà T số tiền hụi ở các dây hụi là 212.500.000 đồng (Hai trăm, mười hai triệu, năm trăm nghìn đồng).

Bà T có nhiều lần đến nhà yêu cầu vợ chồng ông Đ, bà H phải trả tiền nhưng vợ chồng ông Đ, bà H không thực hiện.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần tính lãi suất với số tiền là 34.030.000 đồng và một phần tiền hụi là 22.500.000 đồng và yêu cầu Tòa án buộc vợ, chồng ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị H có trách nhiệm liên đới trả cho bà T số tiền nợ gốc là: 410.000.000 đồng (Bốn trăm, mười triệu đồng) và tiền nợ hụi là 190.000.000 đồng. Tổng cộng là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng)

2/ Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Hồng H ( Trần Hồng H) trình bày:

Bà H thống nhất với lời trình bày của phía đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình là vợ chồng bà H, ông Đ có vay nhiều lần như lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và còn nợ tiền vay của nguyên đơn tổng cộng 410.000.000 đồng.

Đối với tiền hụi, bà H thừa nhận bà T có chơi 02 dây hụi như lời trình bày của phía đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và còn nợ số tiền hụi trên là 212.500.000 đồng.

Nay theo yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì bà H đồng ý trả cho nguyên đơn bà T số tiền vay là 410.000.000 đồng và tiền hụi là 190.000.000 đồng. Tổng cộng là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng)

Tuy nhiên do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả mỗi tháng 4.000.000 đồng.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông Đ thống nhất với lời trình bày của bà H và đồng ý theo ý kiến của bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vay và tiền nợ hụi đồng thời bị đơn có nơi cư trú ở Phường A, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu tính lãi với số tiền là 34.030.000 đồng và một phần tiền hụi là 22.500.000 đồng.

Xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của nguyên đơn.

Nguyên đơn bà Trần Thị T1 yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn Đ cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ vay 410.000.000 đồng và tiền hụi là 190.000.000 đồng. Bị đơn bà H và ông Đ thống nhất có nợ bà T1 số tiền vay 410.000.000 đồng và tiền hụi là 190.000.000 đồng. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định bà H và ông Đ có nợ bà T1 số tiền vay 410.000.000 đồng và tiền hụi là 190.000.000 đồng là có thật.

Do phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ của trả nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Nên bà T1 khởi kiện yêu cầu ông Đ và bà H hoàn trả số tiền vay và tiền hụi tổng cộng là 600.000.000 đồng là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về lãi suất: tại phiên tòa phía nguyên đơn đã rút lại yêu cầu tính lãi nên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bị đơn yêu cầu được trả mỗi tháng 4.000.000 đồng, phía nguyên đơn không đồng ý, vấn đề này sẽ được xem xét tại giai đoạn thi hành án.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đ và bà H cùng phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm, tuy nhiên ông Đ và bà H là người cao tuổi nên được miễn án phí theo đ, khoản 2, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 288, 466, 468; 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường và Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường;

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 12; khoản 2 Điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử:

1/ Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu tính lãi với số tiền là 34.030.000 đồng và tiền hụi là 22.500.000 đồng.

2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn Đ cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền vay và tiền hụi.

Buộc bà Trần Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn Đ cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị T số tiền vay là 410.000.000 đồng (bốn trăm mười triệu đồng) và tiền hụi là 190.000.000 đồng ( một trăm chín mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị T thì hàng tháng bà Trần Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn Đ còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.

3/ Về án phí sơ thẩm:

Bà Trần Thị Hồng H và ông Nguyễn Văn Đ được miễn tiền án phí.

Bà Lê Thị T không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà Lê Thị T 15.130.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006448 do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ngã Năm thu ngày 13/3/2023.

4/ Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ