vanban.org

Bản án 38/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Xây dựng Thương mại T.H.H.

Buộc bị đơn Công ty TNHH H.L phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 545.672.801đồng (trong đó nợ gốc 338.960.192đồng, nợ lãi 188.495.762đồng) Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp Hợp đồng thi công và mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Xây dựng Thương mại T.H.H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/KDTM-ST
Ngày: 29/9/2022.
V/v: “Tranh chấp Hợp đồng thi
công và mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Anh Khoa

2/ Ông Trần Ngọc Bích

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Lam Điền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 18/2022/TLST-KDTM ngày 01 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng thi công và mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 701/2022/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Xây dựng Thương mại T.H.H

Địa chỉ: lầu 3, 77 – 79 Nguyễn Văn Cừ, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Đại diện theo pháp luật: Ông B.V.H – Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông N.V.T, bà V.T.B.T

Cùng địa chỉ: 116A Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

- Bị đơn: Công ty TNHH H.L

Địa chỉ: 68A2 đường A2, KDC 91B, phường An Khánh, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ

Đại diện theo pháp luật: Ông L.V.T.H– Giám đốc.

(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Do có quen biết nên từ năm 2013 nguyên đơn có nhiều lần thỏa thuận cung cấp vật tư và thi công với công ty TNHH H.L với nhiều công trình khác nhau, hai bên không có ký kết hợp đồng, sau khi thống nhất giá cả phương thức thanh toán thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ giao hàng theo đúng thỏa thuận của hai bên. Sau đó, hai bên thống nhất và ký kết Bản đối chiếu công nợ ngày 24/9/2016 theo đó công ty TNHH H.L còn nợ lại nguyên đơn 438.960.192đồng, sau nhiều lần thanh toán căn cứ theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2017 thì công ty TNHH H.L còn nợ lại nguyên đơn 338.960.192đồng, từ đó đến nay công ty TNHH H.L không thanh toán tiếp tục dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH H.L phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc là 338.960.192đồng và lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 25/12/2017 cho đến khi giải quyết xong vụ kiện.

Tại phiên tòa,

Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn công ty TNHH H.L phải thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 545.672.801đồng (trong đó nợ gốc 338.960.192đồng, lãi suất 188.495.762đồng) và tiếp tục tính lãi 0,83%/tháng cho đến khi bị đơn thanh toán hết nợ. Đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.

Bị đơn công ty TNHH H.L đã được Tòa án niêm yết văn bản triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: theo các biên bản đối chiếu công nợ ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn, nguyên đơn cung cấp vật tư và thi công cho bị đơn nhưng do bị đơn không thanh toán theo thỏa thuận nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ và lãi suất phát sinh. Tranh chấp này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng thi công và mua bán hàng hóa” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo điều 30 và 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục công khai chứng cứ, hòa giải theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn công ty TNHH H.L đã được Tòa án niêm yết thông báo hòa giải và quyết định xét xử nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về nội dung vụ án: công ty TNHH Thương mại xây dựng T.H.H (công ty T.H.H) cung cấp vật tư và thi công cho công ty TNHH H.L (công ty H.L) dù hai bên không ký kết hợp đồng nhưng công ty T.H.H đã hoàn thành thi công nhiều công trình cho công ty H.L và các bên đã đối chiếu công nợ thống nhất theo biên bản đối chiếu công nợ vào các ngày 28/3/214, 24/9/2016 và 24/9/2016 (đều có mộc dấu công ty). Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2017 thì công ty H.L đã thanh toán thêm cho công ty T.H.H số tiền 100.000.000đồng, tuy trong biên bản người ký không phải là đại diện theo pháp luật của công ty H.L và không có đóng dấu pháp nhân công ty H.L theo quy định tuy nhiên công ty T.H.H vẫn thừa nhận công ty H.L có thanh toán số tiền trên, đây là sự thật không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử công nhận.

Về lãi suất: công ty T.H.H yêu cầu tính lãi 0,83%/tháng kề từ ngày 25/12/2017 cho đến khi công ty H.L thanh toán xong nợ. Xét thấy, mặc dù các bên không có thỏa thuận về lãi suất và thời hạn thanh toán tuy nhiên theo các biên bản đối chiếu công nợ thì công ty T.H.H đã hoàn thành thi công các công trình cho công ty H.L, do đó công ty H.L phải có nghĩa vụ thanh toán tiền cho công ty T.H.H kể từ khi các bên xác nhận công nợ. Mặt khác, công ty T.H.H yêu cầu tính lãi từ ngày 25/12/2017 và lãi suất là 0,83%/tháng là thấp hơn mức lãi suất trung bình trên thị trường, là đã có lợi cho bị đơn công ty H.L.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 184, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 25, Điều 55 Luật thương mại;

- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Xây dựng Thương mại T.H.H.

Buộc bị đơn Công ty TNHH H.L phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tạm tính đến ngày 29/9/2022 là 545.672.801đồng (trong đó nợ gốc 338.960.192đồng, nợ lãi 188.495.762đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 0,83%/tháng cho đến khi thanh toán xong hết nợ.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: bị đơn công ty TNHH H.L phải chịu 25.826.912đồng. Nguyên đơn công ty TNHH Xây dựng thương mại T.H.H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001978 ngày 26/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo nói trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ