vanban.org

Bản án 38/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Tuyên án 16/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh Kh (Kh1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt chính: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 38/2022/HSST
Ngày: 16-09-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Múth Sô Ny;

2. Bà Lương Thị Hoàng Kim;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, cán bộ

Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh

Biên xét xử sơ thẩm công Khi theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm

(Phòng xử trực tuyến – Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên) và điểm cầu thành

phần (Phòng xử trực tuyến tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Tịnh Biên) vụ án

hình sự thụ lý số 29/2022/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Võ Minh Kh, tên gọi khác: Kh1, sinh ngày 22/02/2003, nơi sinh tại

huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang; nơi cư trú: T5, khóm X, thị trấn T, huyện T,

tỉnh A; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam;

nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 03/12; con ông Võ Minh T, sinh năm

1977 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; Anh, chị, em: có 02 người, bị cáo là

người thứ hai;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2022 đến nay, đang tạm giam tại Nhà tạm

giữ Công an huyện T, bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Văn U, sinh năm 1963, nơi cư trú: khóm X, thị trấn

T, huyện T, tỉnh A, có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Lê Văn H, sinh năm 2000, có mặt;

2. Ông Trần Văn T, sinh năm 1985, có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 3/2022, Võ Minh Kh được ông Trần Văn U cho ở và phụ giúp

việc nhà tại tổ 04, khóm X, thị trấn T, huyện T, tỉnh A.

Do cần tiền tiêu xài, nên Kh nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của ông U.

Để thực hiện, khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/4/2022, Kh trèo qua nhà thuốc nam của ông U, lấy cây tua vít và đèn pin trong ngăn tủ bàn gỗ gần cửa. Kh đi đến tủ kính gần đó, dùng tua vít mở ổ khóa và cửa tủ, lấy trộm 03 cọc tiền để phía sau đống sách trong tủ đếm được 12.400.000 đồng, rồi cất giấu vào túi áo khoát màu đen và máng áo khoát ở cây cột trước nhà của anh Trần Văn T (con ruột ông U, cặp vách nhà thuốc nam của ông U). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Kh tiếp tục vào nhà thuốc nam của ông U, Kh thấy trong tủ kính có 01 cái hộp màu đen bên trong có một túi vải để 03 chiếc nhẫn vàng 24 kara trọng lượng 05 chỉ, 01 sợi dây chuyền cùng với mặt dây chuyền vàng 18 kara trọng lượng 6,1 chỉ, Kh lấy trộm số vàng này đem ra cửa sổ cất giấu, rồi Kh quay lại tủ kính lấy trộm 1.750.000 đồng ở phía sau đống sách trong tủ kính, thì bị ông U phát hiện và bắt quả tang, trình báo Công an thị trấn T. Tại Cơ quan Công an, Kh thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp lại số tài sản đã lấy trộm của ông U.

Ngày 29/4/2022, Võ Minh Kh bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) sợi dây chuyền và mặt dây chuyền (loại mặt hình ông địa

bằng đá có màu xanh, có viền kim loại vàng) kim loại vàng 18Kara, trọng lượng 6,1 chỉ; 03 (ba) nhẫn tròn kim loại vàng 24Kara, trọng lượng 05 chỉ; tiền Việt Nam 14.150.000 đồng; đã trả lại cho bị hại Trần Văn U ngày 28/4/2022.

- 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu

trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).

Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTB-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022, Viện

Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đã truy tố bị cáo Võ Minh Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt Bộ luật hình sự).

Tại Cơ quan điều tra,

- Bị cáo Võ Minh Kh Khi nhận hành vi như đã nêu.

- Bị hại, người làm chứng khẳng định tình tiết vụ án đúng như bị cáo

Khi nhận.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Võ Minh Kh thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng. Bị cáo

Kh không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội

đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại ông Trần Văn U không có ý kiến tranh luận, đồng thời xác định tài

sản bị mất trộm đã thu hồi giao trả đầy đủ nay ông không có yêu cầu gì khác.

- Kiểm sát viên, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên trình

bày vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng

xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

* Hình phạt chính

+ Áp dụng c khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản

1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Võ

Minh Kh từ: 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt tiền đối với các bị

cáo, do các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và

Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề xuất:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu

trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ

BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản, không yêu cầu

bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tịnh

Biên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, Kiểm sát

viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và hợp pháp về thẩm

quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Minh Kh Khi nhận hành vi phạm tội

của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời Khi của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, cũng phù hợp với lời Khi của bị cáo đã Khi nhận tại Cơ quan điều tra. Đồng thời còn phù hợp với vật chứng vụ án được thu giữ.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi: Do cần tiền tiêu xài, nên Kh nảy

sinh ý định lấy trộm tài sản của bị hại. Để thực hiện hành vi, Kh đã lén lút vào nhà của ông U tìm tài sản để lấy trộm, trong ngày 22/4/2022, Võ Minh Kh đã 02 lần lấy trộm tài sản của bị hại Trần Văn U, tổng giá trị chiếm đoạt 62.601.000 đồng, cụ thể:

+ Lúc 0h 30 phút, ngày 22/04/2022 Kh lấy trộm 03 cọc tiền mặt trị giá

12.400.000 đồng;

+ Lúc 23 giờ 00 phút, ngày 22/4/2022 Kh lấy trộm 01 sợi dây chuyền

cùng với mặt dây chuyền vàng 18 kara trọng lượng 6,1 chỉ, trị giá 20.801.000 đồng; 03 nhẫn tròn vàng 24 kara trọng lượng 05 chỉ, trị giá 27.650.000 đồng và 1.750.000 đồng tiền mặt;

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện

hành vi phạm tội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà pháp luật quy định cần phải được bảo vệ. Về hành vi thì Kh thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian trong 02 lần trộm cắp tài sản. Do đó, cộng các lần trộm cắp với nhau để tính vào giá trị chiếm đoạt là 62.601.000 đồng.

Từ những phân tích trên, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Minh

Kh có đầy đủ dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình

phạt đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Minh Kh bị áp dụng tình tiết tăng nặng

“Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Võ Minh Kh được áp dụng tình tiết giảm

nhẹ “Thành khẩn Khi báo, ăn năn hối cải”,“Tự nguyện giao nộp lại số tài sản lấy trộm nên chưa gây thiệt hại”được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình

tiết giảm nhẹ, cũng như nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần có mức án nghiêm khắc, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, cũng để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Do đó, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đề

nghị áp dụng đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy

hiểm về hành vi phạm tội.

Biện pháp tư pháp:

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu

trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ

BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản, không yêu cầu

bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Không áp dụng, do bị cáo Võ Minh Kh

có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều

51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh Kh (Kh1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt:

Về hình phạt chính:

- Bị cáo Võ Minh Kh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được

tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 23/4/2022 (ngày hai ba, tháng tư, năm

hai nghìn không trăm hai hai).

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106

của Bộ luật tố tụng hình sự;

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu

trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ

BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).

(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện

Tịnh Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/08/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên).

5. Về trách nhiệm dân sự: Không.

6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố

tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Võ Minh Kh phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền

án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng

hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

LuậtThi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ