- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh Kh phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 38/2022/HSST Ngày: 16-09-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Múth Sô Ny;
2. Bà Lương Thị Hoàng Kim;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, cán bộ
Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều, Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh
Biên xét xử sơ thẩm công Khi theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm
(Phòng xử trực tuyến – Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên) và điểm cầu thành
phần (Phòng xử trực tuyến tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Tịnh Biên) vụ án
hình sự thụ lý số 29/2022/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
1. Võ Minh Kh, tên gọi khác: Kh1, sinh ngày 22/02/2003, nơi sinh tại
huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang; nơi cư trú: T5, khóm X, thị trấn T, huyện T,
tỉnh A; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam;
nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 03/12; con ông Võ Minh T, sinh năm
1977 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; Anh, chị, em: có 02 người, bị cáo là
người thứ hai;
Tiền án, tiền sự: không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2022 đến nay, đang tạm giam tại Nhà tạm
giữ Công an huyện T, bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Văn U, sinh năm 1963, nơi cư trú: khóm X, thị trấn
T, huyện T, tỉnh A, có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Lê Văn H, sinh năm 2000, có mặt;
2. Ông Trần Văn T, sinh năm 1985, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 3/2022, Võ Minh Kh được ông Trần Văn U cho ở và phụ giúp
việc nhà tại tổ 04, khóm X, thị trấn T, huyện T, tỉnh A.
Do cần tiền tiêu xài, nên Kh nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của ông U.
Để thực hiện, khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/4/2022, Kh trèo qua nhà thuốc nam của ông U, lấy cây tua vít và đèn pin trong ngăn tủ bàn gỗ gần cửa. Kh đi đến tủ kính gần đó, dùng tua vít mở ổ khóa và cửa tủ, lấy trộm 03 cọc tiền để phía sau đống sách trong tủ đếm được 12.400.000 đồng, rồi cất giấu vào túi áo khoát màu đen và máng áo khoát ở cây cột trước nhà của anh Trần Văn T (con ruột ông U, cặp vách nhà thuốc nam của ông U). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Kh tiếp tục vào nhà thuốc nam của ông U, Kh thấy trong tủ kính có 01 cái hộp màu đen bên trong có một túi vải để 03 chiếc nhẫn vàng 24 kara trọng lượng 05 chỉ, 01 sợi dây chuyền cùng với mặt dây chuyền vàng 18 kara trọng lượng 6,1 chỉ, Kh lấy trộm số vàng này đem ra cửa sổ cất giấu, rồi Kh quay lại tủ kính lấy trộm 1.750.000 đồng ở phía sau đống sách trong tủ kính, thì bị ông U phát hiện và bắt quả tang, trình báo Công an thị trấn T. Tại Cơ quan Công an, Kh thừa nhận hành vi phạm tội và giao nộp lại số tài sản đã lấy trộm của ông U.
Ngày 29/4/2022, Võ Minh Kh bị khởi tố điều tra.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) sợi dây chuyền và mặt dây chuyền (loại mặt hình ông địa
bằng đá có màu xanh, có viền kim loại vàng) kim loại vàng 18Kara, trọng lượng 6,1 chỉ; 03 (ba) nhẫn tròn kim loại vàng 24Kara, trọng lượng 05 chỉ; tiền Việt Nam 14.150.000 đồng; đã trả lại cho bị hại Trần Văn U ngày 28/4/2022.
- 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu
trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSTB-HS ngày 09 tháng 8 năm 2022, Viện
Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đã truy tố bị cáo Võ Minh Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt Bộ luật hình sự).
Tại Cơ quan điều tra,
- Bị cáo Võ Minh Kh Khi nhận hành vi như đã nêu.
- Bị hại, người làm chứng khẳng định tình tiết vụ án đúng như bị cáo
Khi nhận.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo Võ Minh Kh thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng. Bị cáo
Kh không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội
đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại ông Trần Văn U không có ý kiến tranh luận, đồng thời xác định tài
sản bị mất trộm đã thu hồi giao trả đầy đủ nay ông không có yêu cầu gì khác.
- Kiểm sát viên, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên trình
bày vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng
xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
* Hình phạt chính
+ Áp dụng c khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản
1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Võ
Minh Kh từ: 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt tiền đối với các bị
cáo, do các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề xuất:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu
trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ
BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản, không yêu cầu
bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tịnh
Biên, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và hợp pháp về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ Minh Kh Khi nhận hành vi phạm tội
của mình như nội dung bản cáo trạng. Lời Khi của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, cũng phù hợp với lời Khi của bị cáo đã Khi nhận tại Cơ quan điều tra. Đồng thời còn phù hợp với vật chứng vụ án được thu giữ.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi: Do cần tiền tiêu xài, nên Kh nảy
sinh ý định lấy trộm tài sản của bị hại. Để thực hiện hành vi, Kh đã lén lút vào nhà của ông U tìm tài sản để lấy trộm, trong ngày 22/4/2022, Võ Minh Kh đã 02 lần lấy trộm tài sản của bị hại Trần Văn U, tổng giá trị chiếm đoạt 62.601.000 đồng, cụ thể:
+ Lúc 0h 30 phút, ngày 22/04/2022 Kh lấy trộm 03 cọc tiền mặt trị giá
12.400.000 đồng;
+ Lúc 23 giờ 00 phút, ngày 22/4/2022 Kh lấy trộm 01 sợi dây chuyền
cùng với mặt dây chuyền vàng 18 kara trọng lượng 6,1 chỉ, trị giá 20.801.000 đồng; 03 nhẫn tròn vàng 24 kara trọng lượng 05 chỉ, trị giá 27.650.000 đồng và 1.750.000 đồng tiền mặt;
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện
hành vi phạm tội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà pháp luật quy định cần phải được bảo vệ. Về hành vi thì Kh thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian trong 02 lần trộm cắp tài sản. Do đó, cộng các lần trộm cắp với nhau để tính vào giá trị chiếm đoạt là 62.601.000 đồng.
Từ những phân tích trên, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Võ Minh
Kh có đầy đủ dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình
phạt đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Võ Minh Kh bị áp dụng tình tiết tăng nặng
“Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Võ Minh Kh được áp dụng tình tiết giảm
nhẹ “Thành khẩn Khi báo, ăn năn hối cải”,“Tự nguyện giao nộp lại số tài sản lấy trộm nên chưa gây thiệt hại”được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình
tiết giảm nhẹ, cũng như nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần có mức án nghiêm khắc, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, cũng để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Do đó, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên đề
nghị áp dụng đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy
hiểm về hành vi phạm tội.
Biện pháp tư pháp:
* Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu
trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ
BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản, không yêu cầu
bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Không áp dụng, do bị cáo Võ Minh Kh
có hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều
51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh Kh (Kh1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt:
Về hình phạt chính:
- Bị cáo Võ Minh Kh 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được
tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 23/4/2022 (ngày hai ba, tháng tư, năm
hai nghìn không trăm hai hai).
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106
* Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cây tua vít có cán bằng nhựa, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái đèn pin nhỏ màu tím, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) cái áo khoác màu đen, phía trước ngực bên trái có logo màu
trắng hình tròn, ở giữa có hình ngôi sao 06 cánh và phía dưới logo có chữ
BOY, đã qua sử dụng (của Võ Minh Kh).
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Tịnh Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/08/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tịnh Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên).
5. Về trách nhiệm dân sự: Không.
6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố
tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Võ Minh Kh phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền
án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
LuậtThi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND h. Tịnh Biên; - CQCSĐT CA h. Tịnh Biên.; - Chi cục THADS h.Tịnh Biên; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HS, THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Mỹ |