vanban.org

Bản án 38/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thường Tín, TP. Hà Nội Tuyên án 06/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Thế V. 07 (bảy) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy (Heroine) bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thế V. và giám định viên (ký hiệu M1); 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy (Heroine) bên ngoài có chữ ký của Phạm Việt T. và giám định viên (ký hiệu M2). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán ma tuý - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Thế V. 07 (bảy) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T.
THÀNH PHỐ H.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 38/2022/ HSST
Ngày: 06/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN - HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Lan H. C¸c héi thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Kim V.và bà Đỗ Thu D. -Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thị H. - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

- Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Q. - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tßa ¸n nh©n d©n huyÖn T. xét xö sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/TLST-HS ngày 31/5/2022, theo quyÕt ®Þnh ® a vô ¸n ra xÐt xö sè 21/2022/Q§XXST - HS ngµy 09/6/2022 đối với bị cáo:

NGUYỄN THẾ V., sinh năm 1971; HKTT và chỗ ở: Thôn Văn Trai, xã Văn Phú, huyệnThường Tín, TP Hà Nội; Tr×nh độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; D©n téc: Kinh; T«n gi¸o:kh«ng; Quèc tÞch: ViÖt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Tậu; con bà: Nguyễn Thị Tẹo; Vợ: Nguyễn Thị Hằng và có 02con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2003);

Tiền án, tiền sự:

+ Ngày 27/10/1995, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản.

+ Ngày 06/4/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 17/3/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

+ Ngày 19/4/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/4/2022. (có mặt)

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Viết T., sinh năm 1994; HKTT và chỗ ở: Thôn Q., xã Q., huyện T., thành phố H.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 25/4/2022, trước cửa nhà của Nguyễn Thế V. ở thôn V., xã V., huyện T., TP H., Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, Ma túy - Công an huyện T. phối hợp với Công an xã Q. và Công an xã V. phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Thế V. đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Viết T. Quá trình bắt giữ đã phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay phải của T. có 01 (một) gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy, bên trong có chất bột màu trắng. Phạm Viết T. khai nhận là ma túy Heroine vừa mua của Nguyễn Thế V. để sử dụng cho bản thân. Phát hiện, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của V. đang mặc có 01 (một) túi nilong kích thước (8,5x4)cm bên trong có 05 (năm) gói nhỏ bên ngoài bọc bằng giấy bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng và thu giữ 01 (một) tờ tiền mệnh giá 200.000 là tiền Vinh vừa bán ma túy cho T. mà có, 01 điện thoại Itell màu đỏ đã qua sử dụng, bên trong lắp Sim 1 có số thuê bao: 0335429680, Sim 2 có số thuê bao: 09782961714, số Imei 1: 358625101296749, số Imei 2: 358625101296756.

Ngày 25/4/2022, khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thế V. nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Thế V. khai: tối ngày 24/4/2022, V. đi bộ từ nhà ở thôn V., xã V., huyện T. ra khu vực đường mới thuộc xã V. để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Tại đây, V. gặp và mua của một người thanh niên không quen biết 06 gói ma túy loại Heroine bên ngoài bọc giấy với giá 900.000 đồng rồi mang về nhà cất giữ. Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 25/4/2022, khi V. đang ở nhà thì Phạm Viết T. đến gặp V. và hỏi: “anh có hàng không để cho em hai trăm” (V. hiểu ý của Thắng muốn mua 200.000 đồng ma túy Heroine), V. đồng ý và trả lời: “anh có hàng đây”. Sau đó, T. đưa cho V. số tiền 200.000 đồng, V. cầm tiền cất vào túi quần phía sau rồi lấy 01 (một) gói ma túy đã chuẩn bị từ trước đưa cho T. thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 2760/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H., kết luận:

- Chất bột màu trắng bên trong 05 gói giấy (thu giữ của Nguyễn Thế V. ký hiệu M1) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,341gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy (thu giữ của Phạm Viết T. ký hiệu M2) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,010gam.

Tại bản cáo trạng số 30/2022/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T. truy tố Nguyễn Thế V. về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T. giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thế V. về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế V. phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thế V. từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (25/4/2022).

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì niêm phong, bên trong chứa ma túy (Heroin) bên ngoài có chữ ký xác nhận của Nguyễn Thế V. và giám định viên (ký hiệu M1)

+ 01 phong bì niêm phong, bên trong chứa ma túy (Heroin) bên ngoài có chữ ký xác nhận của Phạm Viết T. và giám định viên (ký hiệu M2)

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

+ Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Itel màu đỏ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 1 số thuê bao 0335429680; sim số 2 thuê bao 09782961714; số IMEL 1: 358625101296749; số IMEL 2: 358625101296756.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Chất bột màu trắng Nguyễn Thế V. đã bán cho Phạm Viết T. là 0,010 gam (Heroine) và tàng trữ mục đích để bán có khối lượng 0,341 gam (Heroine). Xét bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy, đều biết ma túy là chất cấm, được nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình mua bán để kiếm lợi nhuận, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Thế V. đã xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng vật chứng thu giữ. Căn cứ vào lời khai của những người liên quan xác định được bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy ngày 25/4/2022. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện T. truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, vi phạm các chính sách pháp luật về phòng chống ma túy, tác động xấu đến kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đạo đức, lối sống và sức khỏe của người khác, gây bức xúc trong xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do động cơ tư lợi và nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần, trong đó đã bị xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo mình trở thành người lương thiện, bị cáo tiếp tục dấn thân vào con đường nghiện hút và mua bán ma túy. Vì vậy cần có hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo làm công việc tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy (Heroine) bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thế V. và giám định viên (ký hiệu M1); 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy (Heroine) bên ngoài có chữ ký của Phạm Việt T. và giám định viên (ký hiệu M2) được hoàn lại sau giám định, là vật chứng của vụ án. Tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại Itel màu đỏ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim, số thuê bao 0335429680, sim 2 số thuê bao 09782961714; số IMEL1: 358625101296749; số IMEL2: 358625101296756 không liên quan đến việc phạm tội, trả lại bị cáo Nguyễn Thế V.

- Số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) là tiền do bị cáo phạm tội mà có, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Số tang vật hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện T., biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2022 và ủy nhiệm chi tại kho bạc nhà nước huyện T. ngày 06/6/2022).

Những vấn đề khác: Đối với Phạm Viết T. là đối tượng nghiện ma túy đã mua ma túy của Nguyễn Thế V. ngày 25/4/2022 để sử dụng, có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức xử lý về hình sự, cơ quan điều tra công an huyện T. đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tang trưc trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật. Đối tượng Nguyễn Thế V. khai đã bán ma túy cho V. ngày 24/4/2022 tại khu vực xã V., cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa có kết quả, tiếp tục điều tra và xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 332,333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế V. phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Thế V. 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (25/4/2022).

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy (Heroine) bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Thế V. và giám định viên (ký hiệu M1); 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy (Heroine) bên ngoài có chữ ký của Phạm Việt T. và giám định viên (ký hiệu M2).

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

- Trả lại bị cáo Nguyễn Thế V. 01 điện thoại Itel màu đỏ đã qua sử dụng, bên trong lắp sim, số thuê bao 0335429680, sim 2 số thuê bao 09782961714; số IMEL1: 358625101296749; số IMEL2: 358625101296756.

(Số tang vật hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thường Tín, biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2022 và ủy nhiệm chi tại kho bạc nhà nước huyện T. ngày 06/6/2022).

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế V. phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ