- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Văn Ngọc - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Mai Văn N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38 /2022/HS-ST Ngày 26-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH K
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Oai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Lơn
Ông Trương Tha
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khải – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh K xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 05 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-HS ngày 11/5/2022 đối với bị cáo:
Mai Văn N; sinh năm: 1999 tại N, K; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh K. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn T (đã chết) và bà Trịnh Thị Hải L (sinh năm: 1973); Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2022, được bảo lãnh tại ngoại ngày 18/4/2022. Có mặt.
* Bị hại: Ông Võ Văn T – sinh năm 1994
Nơi cư trú: Thôn P, xã Ninh H, thị xã N, tỉnh K; Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Ngô Phụng T – sinh năm 1995
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh K; Vắng mặt.
2/ Ông Trần Văn A – sinh năm 1984
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh K; Có mặt.
* Người làm chứng:
1/ Bà Huỳnh Thị Cẩm P – sinh năm 1986; Vắng mặt.
2/ Bà Mai Thị Hồng V – sinh năm 1995; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán kiếm tiền tiêu xài nên khoảng 15 giờ ngày 19/5/2021. N đi xe môtô biến số 79H1-451.71 đến thôn P, xã N, thị xã N, ngang qua trại của ông Võ Văn T thấy một đầu máy bơm nước để ở gần đó. N xuống xe tới tháo, lấy bỏ lên xe chở đến tiệm nông – ngư - cơ A Đỏ ở thôn M, xã N bán cho ông Trần Văn A với giá 300.000 đồng. Ngày 20/5/2021, ông T biết ông A mua máy bơm nước mà mình bị trộm cấp nên trình báo Công an xã Ninh Hưng thu giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 75/KL – HĐĐGTS ngày 15/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Ninh Hòa kết luận đầu máy bơm nước, màu xanh lá cây, bằng kim loại (sắt) kích thước 70cm x 50cm, nặng 68kg, trên thân có chữ DUY TOAN, trị giá 2.664.000 đồng.
Đối với ông Ngô Phụng T cho bị cáo mượn xe môtô biển số 79H1- 45171 nhưng không biết mục đích của bị cáo mượn xe đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với ông Trần Văn A có hành vi mua đầu máy bơm nước là tài sản do bị cáo trộm cắp nhưng không biết rõ tài sản là do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Về vật chứng vụ án: 01 xe môtô biển số 79H1- 45171 và 01 đầu máy bơm nước đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa ra quyết định xử lý trả lại chủ sở hữu.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS-HS ngày 06/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh K truy tố bị cáo Mai Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2022 đến ngày 18/4/2022 (30 ngày) nên được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là 90 ngày. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N giám sát, giáo dục. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về vật chứng vụ án: 01 xe môtô biển số 79H1- 45171 và 01 đầu máy bơm nước đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa ra quyết định xử lý trả lại chủ sở hữu nên không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo Mai Văn N thống nhất hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa truy tố. Bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Phụng T, người làm chứng bà Huỳnh Thị Cẩm P vắng mặt nhưng đã có lời khai tại hồ sơ, và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Mai Văn N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán kiếm tiền tiêu xài nên khoảng 15 giờ ngày 19/5/2021, bị cáo đi xe môtô biến số 79H1-451.71 đến thôn P, xã N, thị xã N, ngang qua trại của ông Võ Văn T thấy một đầu máy bơm nước để ở gần đó. Bị cáo xuống xe tới tháo, lấy bỏ lên xe chở đến tiệm nông – ngư - cơ A Đỏ ở thôn M, xã N bán cho ông Trần Văn A với giá 300.000 đồng. Hành vi của Mai Văn N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với ông Ngô Phụng T cho bị cáo mượn xe môtô biển số 79H1- 45171 nhưng không biết mục đích của bị cáo mượn xe đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với ông Trần Văn A có hành vi mua đầu máy bơm nước là tài sản do bị cáo trộm cắp nhưng không biết rõ tài sản là do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho chủ sở hữu và tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Mai Văn N. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sau khi phạm tội bị cáo bỏ đi khỏi địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa ra quyết định truy nã, sau đó bị cáo N đã đầu thú trước khi tiến hành đưa vụ án ra xét xử đã gây khó khăn cho việc tiến hành điều tra vụ án, nên cần áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt tù treo cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người tốt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa đã trả lại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- Căn cứ Điều 106, 292, 293, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Xử phạt: Bị cáo Mai Văn N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Mai Văn N cho Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh K, nơi bị cáo thường trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Ninh H, thị xã N, tỉnh K trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Mai Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa đã trả lại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bị cáo Mai Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Khánh Hòa; -Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; -VKSND tỉnh Khánh Hòa; -VKSND thị xã Ninh Hòa; - Công an thị xã Ninh Hòa; - Chi cục THA dân sự thị xã Ninh Hòa; - Ủy ban nhân dân xã N; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu án văn; hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Oai |